Lê Thị Mây và vết sẹo thơ

1. Nhắc đến nhà thơ Lê Thị Mây tôi cứ nhớ mãi hình ảnh người bạn gái lúc nào cũng cúi xuống máy chữ, lạch cạch cặm cụi sửa đi sửa lại từng câu thơ cho đến khi thành hình.

Bạn bè đến chơi, ngồi nghê nga hơi lâu là Mây nhấp nhổm vì tiếc thời gian...

Nhà thơ Lê Thị Mây

Lê Thị Mây tên thật là Phạm Thị Tuyết Bông, là người có hai quê, quê nào cũng rất cật ruột.

Năm 1993, Hội Văn nghệ Quảng Trị ra tạp chí Cửa Việt bộ mới, nhà văn Xuân Đức, lúc đó là Giám đốc Sở Văn hóa và Chủ tịch Hội Văn nghệ đã đích thân vào Huế mời Lê Thị Mây ra làm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Quảng Trị, rồi sau đó lên Tổng biên tập Cửa Việt, vì chị quê gốc là Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị. Còn trong sách “Các nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình” lại xếp Lê Thị Mây vào danh sách “nhà văn Quảng Bình”.

Điều đó cũng rất đúng vì chị sinh ra ở Bảo Ninh, Đồng Hới. Mảnh đất “dọc bờ sông trắng nắng chang chang” (Hàn Mặc Tử) bên kia sông Nhật Lệ ấy có rất nhiều người nổi tiếng như nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Hà Nhật…Lê Thị Mây kể rằng, thời cố nội đi làm ăn từ Cửa Việt ra Đồng Hới rồi lấy vợ người Đồng Hới, rồi định cư luôn ở đây.

2.Nói đến Lê Thị Mây là nói đến nỗi buồn. Nỗi buồn đau do chiến tranh và số phận ấy đã thành sẹo trong thơ chị, nó làm nên hình hài và ruột gan thơ chị... Năm 17 tuổi, học hết phổ thông, Lê Thị Mây gia nhập Thanh niên xung phong hoạt động ở vùng miền tây Quảng Bình. Hiện chị còn giữ cuốn nhật ký ghi lại những ngày ở Troóc, một vùng rừng Trường Sơn rất sôi động như là một chứng tích đời mình.

Chị kể: “Vừa rời nách mẹ mới 200 ngày đêm, bọn Mỹ đã bẻ gãy tuổi  17 của tôi bằng trận bom đầu tiên khi chúng ra miền Bắc...…Vết bom xuyên sâu vào mặt tôi, làm dị dạng gương mặt sắp đón nhận tuổi 20...”. Tuổi  20 đẹp đẽ của chị cũng đã mang nỗi đau chia ly. Người yêu đầu tiên, một bác sĩ quê ở xứ Quảng đã chia tay chị đi B.

Chị kể: ”Ba năm sau tôi mới hay tin anh hy sinh ở chiến trường Quảng Trị”. Có lẽ đó là mối tình đầu đau xót của Lê Thị Mây khởi đầu cho bao mối tình ngang trái đi qua đời chị.

Khi rời đơn vị TNXP về làm quản lý bếp ăn 600 học sinh ở trường Y tế tỉnh, Phạm Thị Tuyết Bông đã mạnh dạn tìm đến nhà thơ Xuân Hoàng, lúc đó là Hội trưởng Hội Văn nghệ Quảng Bình.

Trong hồi ký Âm vang thời chưa xa (tập II), Xuân Hoàng kể rằng, không biết làm thế nào Bông xin được lá thư viết tay của ông Cổ Kim Thành, là Bí thư Tỉnh ủy, một người cũng hay làm thơ, gửi cho Xuân Hoàng, giới thiệu: ”Đây là cô Bông, rất thích viết văn, cô ấy có nguyện vọng chuyển sang chỗ các anh, anh xét thấy nếu cô ấy có khả năng thực sự thì nhận về giúp đỡ, bồi đưỡng”. Xuân Hoàng hỏi: ”Bông yêu văn nghệ, nhưng đã có sáng tác nào chưa?”.

Bông đã chuẩn bị sẵn cuốn sổ thơ trong túi liền lấy ra đưa cho nhà thơ. Xuân Hoàng đọc qua vài ba bài, thấy thơ “thơ thật thà và sơ lược như thơ chung gửi về Hội lúc đó”. Nhưng có lẽ nhà thơ Xuân Hoàng nhận ra những câu chữ thơ của Bông dù “thật thà” cũng đã ánh lên chút hy vọng ở tương lai, liền nói: “Nếu cô biết đánh máy tôi sẽ nhận. Về đây, có không khí sáng tác và nhiều người sáng tác giỏi, cô sẽ có điều kiện học hỏi…”.

Bông nhỏ nhẹ nhưng rất tự tin: ”Em không biết đánh máy, nhưng học tại chỗ một thời gian thì có thể làm việc được”. Thế là Phạm Tuyết Bông trở thành nhân viên đánh máy  chữ và  làm hành chính tạp vụ của Hội Văn nghệ Quảng Bình từ đấy. Một thời gian sau, Hội Văn nghệ Quảng Bình nhận thêm một cô gái làm thơ  nữa là Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ trắng trẻo, nhỏ nhắn, từ quê đồng chiêm Lệ Thủy mới lên tỉnh nên rất rụt rè, gặp Phạm Tuyết Bông chững chạc, từng trải hơn liền “một chị Bông hai chị Bông”.

Sau này biết Bông cùng tuổi với mình, Lâm Thị Mỹ Dạ đề nghị đổi lại cách xưng hô cho bạn bè, nhưng Bông không chịu. Đến bây giờ Dạ vẫn gọi Bông là “chị”. Năm sau, Bông và Dạ được nhà thơ Xuân Hoàng cho đi học lớp Bồi dưỡng viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam khóa  ở Quảng Bá, Hà Nội.

Đi học về, Phạm Thị Bông có bút danh mới là Lê Thị Mây. Theo Xuân Hoàng thì cái tên Mây có liên quan đến hai chữ bông và mây trong  câu ca dao của Ngô Văn Phú mà thời đó  cô thường hay đọc: ”Trên trời mây trắng như bông/ Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây”.

Như vậy, với con mắt tinh đời, Hội văn nghệ Quảng Bình đã phát hiện và vun đắp cho đất nước hai nhà thơ nữ nổi tiếng. Thời đó, nhà thơ Phạm Tiến Duật ở Binh đoàn 559, hay ghé thăm Hội Văn nghệ Quảng Bình, gặp  hai nữ thi sĩ, nhà thơ liền “nhại”  hai câu kết trong bài thơ Đèo Ngang của mình thành  Nằm ngửa nhớ Bông (Lê Thị Mây), nằm nghiêng nhớ Dạ (Lâm Thị Mỹ Dạ)/ Nôn nao ngồi dậy, nhớ Xuân Hoàng.

3.Như bao người con gái bình thường lớn lên, Lê Thị Mây luôn mơ đến một người yêu, một tấm chồng, một gia đình, những đứa con, mơ được làm vợ, làm mẹ… Khát vọng đó cháy bỏng, nhức nhối, kết tủa trong thơ chị.

Đó là  phút hẹn nhau mà chàng không đến: Nỡ nào bứt cọng cỏ xanh/ Đau em chợt trút cho thành đau cây; đó là Những mùa trăng mong chờ (để khi găp lại rồi lại chia xa: Em tái nhợt niềm vui / Như trăng mọc ban ngày ); đó là cầu nguyện  có được một người đàn ông của mình: Em cầu cho buộc được/ Số phận em vào anh…;

đó là những Giấc mơ thiếu phụ, mơ được làm một người đàn bà bình thường; đó là khát khao Kim chỉ vá may quần áo cho chồng, cho con: Áo sờn mảnh vá người chê/ Bây giờ tôi vá dầm dề gió mưa...

Nhưng những câu thơ làm nao lòng người ấy là những vết sẹo của nỗi chờ mong thăm thẳm. Còn đường tình duyên của chị lại quá nhiều trắc trở. Nhà thơ của chúng ta mong chờ mười năm, hai mươi năm, mong chờ qua thời con gái: Vậy là em phải mang theo những câu chuyện tình đã tắt/Như mang theo tro, như mang theo than...…Mong đợi khát khao thế mà vẫn trắng tay. 

Người miền Trung nói dấu “ô” lẫn dấu “o”, họ thương nhà thơ nên cho rằng bài thơ Những mùa trăng mong chờ như là một định mệnh, vì đó là những mùa trăng “mơ chồng”.

Nhà thơ Lê Thị Mây cũng tự bạch lòng mình: Buồn đâu như nón không quai/ Một mình em với đêm dài gió to.  (Nón không quai là chiếc nón trong câu ca dao: Chòng chành như nón không quai/Như thuyền không lái, như ai không chồng).

Tôi từng có những kỷ niệm với một mối tình đau đớn của Mây. Dạo đó Mây yêu một chàng thi sĩ. Trong một cuộc rượu chàng say, Mây phải thuê xích lô, khuân chàng lên rồi hai người cùng về. Mây phải  bồng chàng lên tường, rồi nhảy vào trong đỡ, tôi và Nguyễn Quang Lập đẩy bên ngoài mới đưa được người say ấy vào được nơi ở.

Cái thời ăn bo bo đó, nhiều đêm Mây thức cùng các con chàng bóc lạc nhập cho ngoại thương để có thêm đôi đồng cho những bữa ăn nghèo khó. Tôi cứ đinh ninh mối tình sẽ đơm hoa kết trái. Rồi không hiểu tại sao hai người chia tay nhau mà tôi không hề hay biết.

Một lần đi làm về trưa, đạp xe ngang Liễu Quán, tôi thấy phòng Mây mở, rẽ vào gửi bài thơ cho Tạp chí Sông Hương. Tôi vồn vã hỏi thăm “chàng”. Bỗng dưng Lê Thị Mây mặt tái nhợt, rồi ngất xỉu té ngã nhào khỏi ghế. Tôi đang lúng túng không biết xử trí ra sao thì may có cô Duyên biên tập viên của nhà xuất bản Thuận Hóa vào, tôi nhờ cô ấy đỡ Mây  rồi chạy đi tìm nữ bác sĩ Thủy quen biết.

Bác sĩ đến khám và bảo tôi: ”Chị Mây không việc gì đâu. Bị ngất do xúc động. Uống chút thuốc là đỡ. Anh đi mua cho chị ấy một tô phở nóng”.  Đi mua phở nóng mà tôi lại đoảng, chỉ đưa cái ca-mèn mà quên móc cái quai xách vào. Tôi đạp xe ra tiệm phở Nam Sông Hương, mua một tô phở Hà Nội bốc khói.

 Chiếc cà-mèn nóng bỏng, nhưng vì bạn , tôi một tay cầm cà mèn phở, một tay lái xe đạp, cố đạp thật nhanh. Đạp về tới nơi, bàn tay trái của tôi chín phỏng, đến cả  mấy tuần sau mới  lành. Kỷ niệm đó mỗi lần nhớ lại tôi lại cười lặng một mình. 

Một lần khác, Đại hội Văn nghệ Bình Trị Thiên năm 1988. Tôi ngồi dãy ghế sau cùng, bên cạnh là “người ấy” của Mây. Người ta yêu cầu mọi người đứng dậy để làm lễ chào cờ. Thì Mây đi chậm từ ngoài cửa bước vào. Tôi gọi Mây và né sang ghế bên, mời Mây vào ghế giữa tôi và người ấy, với thiện ý là hàn gắn tình cảm đang sứt mẻ giữa hai người.

Tôi không ngờ, Mây giang tay giáng một cái tát cực mạnh vào mặt tôi. Tôi nghe má bên trái nóng rân như có lửa. Cái tát vang đến nỗi làm mọi người trong hội trường quay lại, tưởng ai đánh nhau. Nhưng tôi coi như không có chuyện gì xảy ra, cứ đứng nghiêm nhìn lên phía chủ tịch đoàn. Tôi biết vì Mây hiểu lầm là tôi đùa với nỗi đau khổ của Mây, nên tôi không giận.

Nhưng sau cái tát ấy mấy tháng, Mây gặp tôi không chào hỏi. Cho đến cuộc Hội thảo về Văn học Bình Trị Thiên, tôi đọc tham luận về thơ, có nhắc tên và khen thơ Lê Thị Mây, giờ giải lao, Mây mới đến đưa cho tôi cốc nước rồi cười cám ơn. Từ đó quan hệ giữa Lê Thị Mây với tôi mới thân thiết trở lại.

4.Thơ Mây buồn thấm thía. Lê Thị Mây là người con gái biết giấu nỗi đau để cười trước mọi người. Nhưng Mây cũng là người phụ nữ bướng bỉnh, nóng tính. Anh em văn nghệ Quảng  Bình, Quảng Trị hay kể  nhiều giai thoại vui về Lê Thị Mây. Những ngày đầu giải phóng miền Nam tháng 6/1975, Mây vào Đông Hà, rồi dong tuốt vào Sài Gòn cho biết miền Nam  ra sao.

 Khi về lại Quảng Bình, Mây mua mấy cái quần âu nữ. Quần ống đứng, nghĩa là ống quần phía trên bằng dưới gấu, nên mặc vào, đùi bó thì thấy loe. Hồi đó có phong trào chống văn hóa đồi trụy. Ở Hà Nội, Đội Cờ đỏ đi ra đường gặp ai mặc quần loe thì lấy kéo cắt phéng ống quần.  Cơ quan văn hóa họp phê bình Lê Thị Mây “nhiễm văn hóa Mỹ - Ngụy, mặc quần loe”. Mây uất quá, mắng: ”Mắt các ông loe chứ quần tôi đâu có loe!”. Thế là những người phê bình tịt ngòi.

Khi Lê Thị Mây về làm Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt, có người bảo rằng giữa nhà văn Xuân Đức và Lê Thị Mây có chuyện xùng xình. Nhưng Xuân Đức luôn cho rằng “đó là do cá tính không hợp nhau, còn cơ bản anh em chẳng có gì mâu thuẫn cả, con Mây nó khó tính thật, nhưng nó tốt, thơ nó hay...”. Xin kể một giai thoại về “sự khó tính” của Mây.

Một lần Tạp chí Cửa Việt mời cuộc họp cuối năm để đề xuất xin kinh phí cho năm tới. Thành phần mời là cán bộ có quyền  quyết  định bên tài chính, văn hóa. Trước cuộc họp, Lê Thị Mây đi tặng mỗi đại biểu một cuốn Cửa Việt số mới.

Nhưng đến cuối giờ, mức kinh phí mà Tổng biên tập Cửa Việt đề xuất cho năm sau bị các đại biểu  giảm bớt nhiều quá, Mây đỏ mặt đi thu lại cuốn tạp chí đã gửi các đại biểu trước đó, rồi nói: ”Các anh không hiểu chi về lao động nghệ thuật, không xứng được đọc sách này!”.

Không biết những giai thoại về Lê Thị Mây đó có bao nhiêu phần trăm sự thật, nhưng chắc chắn chuyện nóng tính của Lê Thị Mây là có thật. Tôi cho rằng, đó là phản xạ hồn nhiên của  con người trực cảm, của con người từng chịu nhiều nỗi buồn nhân thế.

5.Lê Thị Mây, khi mới 20 tuổi đã có những câu thơ ám ảnh: Hãy ngủ yên nỗi buồn/Như con cọp rình mồi tháng chạp/Ngủ yên trong lau sậy lòng tôi”. Cô gái thanh niên xung phong nhiều năm trên Trường Sơn ấy đến nay đã xuất bản  20 tác phẩm thơ văn; được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam về tập thơ Riêng tặng một người (1990) và tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho truyện dài Huyết ngọc (1998).

Chị có bài thơ nổi tiếng “Những mùa trăng mong chờ” được chọn vào 100 bài thơ hay nhất thế kỷ. Theo tôi là một trong số những bài thơ  hay nhất thời chống Mỹ. Có lẽ Lê Thị Mây - Phạm Thị Tuyết Bông là người sinh ra vì thơ, cho thơ.

Chị đã lao động cật lực, đã chịu đựng biết bao mất mát đau thương của số phận, kể cả sự cô đơn và quyền được làm mẹ, để ghi tên mình vào  danh sách  những cây bút nữ xuất  sắc nhất của làng thơ Việt thế kỷ XX, như mơ ước của chị từ khi là cô thanh niên xung phong, cô cấp dưỡng ở trường Y Quảng Bình tuổi hai mươi. Âu đó cũng là một cách tồn tại. Mà tồn tại trong  lòng người đọc là mơ ước của hàng triệu người cầm bút bao đời nay…

Nhà thơ NGÔ MINH

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá