Người phụ nữ đầu tiên dâng kế sách dựng nước và giữ nước

Theo Hải khẩu linh từ trong Truyền kỳ Tân phả (Đoàn Thị Điểm) thì đó là Chế thắng phu nhân Nguyễn Bích Châu – Cung phi Vua Trần Duệ Tông, là con quan Triều Trần.

Cha là Nguyễn Tướng Công, tư chất thanh liêm, làm quan đến chức Đại thần; mẹ là Phạm Phu Nhân. Tuy bước đường hoan lệ vinh hiển, song bề con cái thì rất hiếm hoi. Mãi tới năm Phạm Phu Nhân 40 tuổi, bà mới có thai và sinh hạ được một người con gái xinh đẹp.

Ông bà rất đỗi vui mừng, nâng niu con gái như Ngọc Bích trong tay và đặt tên cho con là Ngọc Bích Châu. Lớn lên Bích Châu không chỉ đẹp người, đẹp nết, mà còn rất đỗi thông minh, được cha mẹ dạy dỗ chu tất. Vì vậy, khi mới 13 tuổi, Bích Châu đã thông thạo “Tứ Thư Ngũ Kinh”.

Năm Long Khánh thứ nhất (1373), Vua Trần Duệ Tông giáng chiếu chọn nhân tài. Các cung phi và con gái các làng xã trong nước tuổi từ 16-18 đều phải hội Triều dự thi. Bích Châu trúng tuyển và được phong “Tả Cung Quý Phi” ở lại trong Cung, lấy tên hiệu là Phù Dung.

Vào cung Vua được ít lâu, Nguyễn Bích Châu cảm thấy triều cương ngày càng sa sút, chính sự đổ nát, nhân tài không được trọng dụng, nịnh thần lộng hành… nên đã tự mình thảo: “Kê minh thập sách” dâng lên Vua Trần Duệ Tông.

“Kê minh thập sách” dâng lên Vua Trần Duệ Tông

1. Bền gốc nước trị kẻ bạo tàn cho lòng dân được yên.

2. Giữ đúng quy định, xóa bỏ phiền nhiễu thì triều cương không rối.

3. Trị kẻ lạm quyền tránh họa ngầm cho nước.

4. Đuổi hết bọn tham nhũng cho dân đủ sống.

5. Chấn chỉnh học hành, lễ nghĩa cho sáng tỏ đất trời.

6. Mong nghe được lời nói thẳng, mở rộng cửa ngôn luận như mở rộng cửa thành.

7. Chọn quân thì nhằm vào dũng lực, không nhằm vào vóc dạc cao lớn.

8. Chọn tướng thì nhằm vào tài thao lược không nhằm vào thế gia.

9. Vũ khí cần sắc bén không cần trang trí sặc sỡ.

10. Tập trận thì cần chỉnh tề, chặt chẽ chứ không phải giở trò múa may cho đẹp mắt.

Sớ dâng lên Vua, Vua Trần thích lắm đập tay vào phách mà rằng: “Không ngờ một người đàn bà lại thông tuệ đến thế, xứng là một Quý phi tài ba của Trẫm!”. Nhưng rồi nhà Vua vẫn không thay đổi chính sự.

Hơn thế nữa, sau khi lên ngôi được 4 năm, Trần Duệ Tông có ý muốn đem quân đi chinh phạt nước Chiêm Thành. Nhiều người khuyên can song Vua không nghe.

Bích Châu biết Vua không nghe lời nói thẳng, bèn làm một bài biểu dâng lên, bài biểu viết: “Thiếp trộm nghĩ rợ Hiểm Doãn ngang tàng quá lắm từ trước quen thân, rồi Hung Nô kiệt liệt gớm ghê đến nay càng tệ. Vì cướp bóc là cái thói của man di, mà dùng binh không phải là bản tâm của Vương Gia. Nhỏ xíu kia Chiêm Thành ở mé nơi hải đảo, năm kia kéo quân vào Nhị Thuỷ nhòm thấy nước ta bất hoà chúng khua chiêng, đánh trống vang động ngoài biển chỉ vì lòng dân chưa yên, cho nên chúng dám tung đàn ruồi nhặng múa may ngoài bãi cỏ có khác nào giơ càng bọ ngựa ngăn bánh xe. Nhưng Thánh Nhân rộng lượng bao dung không thèm với chó dê so sánh. Việc trị đạo, trước gốc sau ngọn. Xin nghi binh cho dân chúng được yên hàn, trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lấy đức. Vua đời Ngu chỉ múa nhạc mà bảy tuần (70 ngày) giặc Hưu Miền đến hàng; Vua nhà Hạ (Vũ) chỉ gảy đàn mà chẵn 1 tháng rợ Hồ quy phục - đó là thượng sách, xin xét đoán cho minh…”.

Bài biểu dâng lên không được Vua nghe, nàng càng buồn rầu và than: “Nghĩa là Vua tôi, ơn là vợ chồng đã không giỏi can ngăn để giữ nền bình trị, lại không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, thật là sống thừa trong cõi trời đất vậy”.

Từ đó nàng ăn ngủ không yên, bỏ cả trang điểm, đến lúc Trần Duệ Tông phát binh đi đánh Chiêm Thành, nàng nài Vua xin được theo hầu Vua, được Vua và triều đình chấp thuận.

Duệ Tông Đế Chế thân chinh cất quân đánh Chiêm Thành, đạo quân của triều đình được chia làm ba cánh quân trống dong, cờ mở tiến thẳng tới biên thuỳ. Vua Trần cho quân tiến vào cửa biển Thị Nại và đóng quân ở Đông Y Mang. Năm ấy là năm Đinh Tỵ (1377).

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá