Quan họ nào chạnh lòng?

TP - Trao đổi với ông Nguyễn Hùng Vĩ – tác giả bài viết “Chạnh lòng với quan họ”. Quan điểm mà chúng tôi kế thừa là, đang tồn tại nhiều hơn một loại quan họ.

GS Tô Ngọc Thanh trả lời phỏng vấn Tiền Phong (30/6/2005): “Theo nhân dân ở làng quan họ nói là quan họ làng chúng em, rồi đến quan họ Đoàn chị Thúy Cải, rồi quan họ Đài, rồi đến quan họ tivi, thậm chí quan họ của anh Trung Đức, chị Thu Hiền. Nhưng quan họ cổ truyền chỉ có một!”.

Và quan họ mà chúng ta đang mong được UNESCO công nhận là quan họ cổ truyền- hình thức nghệ thuật của nó chỉ là hai người nữ hát đối với hai người nam.

Theo ông Vĩ thì quan họ Làng hay quan họ Đoàn cũng nằm trong quá trình “phát triển tự thân” của quan họ. Chính quan niệm không rạch ròi giữa một bên bảo tồn, một bên phát triển này đã khiến chúng ta không kịp thời có những biện pháp gìn giữ, phát huy sinh hoạt quan họ truyền thống như nó vốn có.

Quan họ chắc chắn không tự vận động lên thành tam ca, tốp ca, thành có nhạc đệm…- mà đó là những gì nó được áp đặt từ một hệ thống khác. Ta có thể dùng dàn nhạc dân tộc hoặc giao hưởng để đệm cho quan họ, nhưng vẫn nói rõ, đó là quan họ cải biên hoặc quan họ-giao hưởng... chứ không nên vô tình hay hữu ý để mọi người đinh ninh đó vẫn là quan họ (cổ truyền).

Ông Vĩ nhìn nhận việc đưa phối âm vào quan họ là “một bước tiến trong tiến trình lịch sử của hát quan họ”. Nhưng phải nói cho rõ, “phối âm” đưa vào quan họ là dựa trên nền tảng hòa âm phương Tây với hệ thống thang âm bình quân, cùng sự thể hiện của các nhạc cụ phương Tây (cello, guitar bass, keyboard…) và nhạc cụ dân tộc hầu hết cải tiến theo phương Tây, trong khi giai điệu quan họ thuộc về một hệ thống thang âm rất riêng biệt!

Tiến lên kiểu đó có đồng nghĩa với đánh mất mình? “Một hiện tượng văn hóa phát triển mà từ chối những thành quả của nhân loại là một hiện tượng kém khôn ngoan”.

May mà chúng ta vẫn còn cơ hội được thấy cái hay, cái độc đáo của nghệ thuật dân tộc trước khi chúng bị buộc phải phát triển theo hướng “khôn ngoan”. Chưa kể, hướng đó ngược với tôn chỉ của UNESCO: Giữ gìn sự đa dạng của các giá trị văn hóa trong xu thế hội nhập.

Người xưa không đệm đàn cho quan họ hẳn không phải vì không có nhạc cụ, mà đó là một sự lựa chọn “phù hợp với tính thực hành xã hội cũng như bản chất của giai điệu quan họ,” theo Nguyễn Trọng ánh, đó còn là tính “nguyên chất, thuần khiết của hát quan họ mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng”(*).

Bài viết liên quan

Chạnh lòng với quan họ

Quan họ: Được tiền, mất thú chơi

Di sản Quan họ, còn gì để mất?

Với kiến thức về âm nhạc phương Tây còn hạn hẹp, chúng tôi xin miễn bình luận trước phát biểu: “Không có bài nào mà hòa âm phương Tây lại không đệm được… Vấn đề là đệm như thế nào thôi.”(!). Ông Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng, việc cắt bỏ tiếng đệm, tiếng láy khi đưa quan họ lên sân khấu là sự bịa đặt.

Còn đúng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan thì: “Trong nhiều trường hợp, nhạc đệm lấn át và đè lên giọng hát… Chưa kể những trường hợp gọt bớt điệu hát cho khớp với nhạc đệm như nghệ nhân cao tuổi Nguyễn Thị Bàn ở làng Diềm đã nhận xét”.(*)

Để khách quan hơn, có thể đem chẳng hạn bài Ngồi tựa mạn thuyền, do cụ Sáu và cụ Đại (ở Ngang Nội) hát trong đĩa Thuyền Quan họ- Viện Âm nhạc ấn hành đối chiếu với cũng bài này trong các đĩa của nghệ sĩ Đoàn DCQHBN.

Chúng tôi phỏng đoán rằng Hừ la đã thất truyền dựa theo lời cụ Nhi ở làng Diềm- một trong 6 báu vật nhân văn sống của quan họ Bắc Ninh. Chính các nhà nghiên cứu đang tiến hành làm hồ sơ quan họ đệ trình UNESCO cũng chưa từng được nghe Hừ la từ miệng nghệ nhân hay nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Bài hát đã được ký âm và có thể cũng đã được thu âm, nhưng hát nó lên, lại còn đệm nhạc cho nó là chuyện hoàn toàn khác. Nếu Hừ la “vẫn được nhiều anh chị ở Đoàn hát”- dù hát như thế nào, chúng tôi cũng mừng thay cho Đoàn.

Dẫn lời nhà nghiên cứu Hồng Thao, “không thể chỉ ra bài gốc” kỳ thực là một sự đánh tráo khái niệm- từ hệ thống sang bài bản. Từ tính dị bản của quan họ, người viết khẳng định không thể tìm ra bản gốc...

Dù luận điểm này không liên quan đến bài báo của chúng tôi, nhưng nhân đây, chúng tôi cũng muốn nói, người quan họ xưa không ngừng tìm tòi sáng tạo để trau chuốt cho tác phẩm của mình, nhưng không vượt quá những quy định thuộc về thể loại, để quan họ không bị lẫn với chèo hay chầu văn. Còn những gì mà các nghệ sĩ chuyên nghiệp làm với quan họ đã đi xa đến mức đủ để phát sinh khái niệm quan họ Đoàn, Quan họ Đài, hay kể cả Quan họ Làng.

Nguyễn Thụy Loan chỉ ra: “Bên cạnh kỹ thuật nảy hạt, hát ngắt- vốn là nét đặc biệt của lối hát quan họ cổ truyền- còn lưu giữ được ở một số nghệ nhân, xu hướng phổ biến là mềm hóa và giảm độ nảy cũng như cường độ ngắt, có trường hợp bỏ lối hát ngắt”.

Sự khác nhau về kỹ thuật hát giữa Quan họ Đoàn và những người hát theo kiểu này so với nghệ nhân đã đến mức người nước ngoài cũng có thể nhận ra được. GS. M.P Baumann (Đức) lần đầu tiên nghe quan họ tại canh hát do Viện VHTT tổ chức tại làng Diềm đã nói ngay, người trẻ hát không có “click” (ý nói kỹ thuật nảy hạt) như người già!

Còn TS Lauren Meeker (Mỹ)- người đã tập hát quan họ qua CD, đến khi tiếp xúc với nghệ nhân, phát biểu: “Phải quên hết những điều tôi biết hoặc cảm nhận về cách hát và sau đó học lại bằng một cảm nhận khác”(*).

Về vấn đề người chơi quan họ có kết hôn với nhau hay không, ghi chép của giới nghiên cứu cho biết: “Theo lời nguyền quan họ, người chơi quan họ- nam nữ không lấy nhau…”(*).

Hồng Thao thuật lời cụ Sáu Huyền: “Người quan họ hai làng kết chạ với nhau (như làng Y Na chúng tôi với Bò Sơn) thì tuyệt đối không được phép lấy nhau đã đành. Nhưng ngay không phải là trường hợp kết chạ, thì dù có yêu nhau đến mấy, những người quan họ chúng tôi cũng ít khi lấy nhau. Đã coi nhau như anh chị em mà còn lấy nhau ư?

Lấy nhau như vậy là không có đạo đức, mà có về ở với nhau thì cuộc sống cũng sẽ không ra sao… Và những bậc cha mẹ, những người chồng người vợ sẽ không còn dám cho người nhà mình đi chơi quan họ nữa”(**).

Chơi quan họ lâu năm, thậm chí suốt đời, thiết nghĩ sẽ có nhiều đóng góp hơn cho nghệ thuật quan họ. Đây là một trong những điều kiện để quan họ phát triển cả về lượng và chất. Đặng Văn Lung kết luận: “Tục kết chạ là một trong những nguyên nhân giữ gìn và phát triển quan họ”. Ông Vĩ cho kiến giải của chúng tôi là “suy diễn sai lầm tiếp theo” nhưng không thấy ông chỉ dẫn gì thêm(?).

_________

(*) Trích một số tham luận tại Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp quan họ ở Bắc Ninh, VN), Viện Văn hóa - Thông tin, HN- 30/3/2006.

(**) Xem Tìm hiểu Âm nhạc dân tộc cổ truyền của Tô Ngọc Thanh- Hồng Thao, NXB Văn hóa, HN-1986.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá