Ý kiến đặt tên cho một chiếc cầu

TP - Tỉnh Thừa Thiên - Huế đang thu thập dân ý để đặt tên cho chiếc cầu đường bộ bắc qua sông Hương, ở bên cạnh cầu đường sắt - xưa nay dân gian quen gọi là cầu đường sắt Dã Viên, vì nó băng qua cồn Dã Viên. Cầu đã thông xe kỹ thuật, dự kiến khánh thành, đưa vào sử dụng nhân dịp lễ Quốc khánh 2-9-2012.

Ý kiến đặt tên cho một chiếc cầu

> Thay một cây cầu mới mất ... 6 tiếng

 

Cầu đường sắt Dã Viên, Huế. Ảnh: panoramio
Cầu đường sắt Dã Viên, Huế. Ảnh: panoramio.

Có người đề xuất là cầu Thuận Hóa, trong khi thương hiệu này đã gắn với một nhà xuất bản, một khách sạn, một trường học ở Huế. Có người đề nghị đặt tên cầu Huyền Trân.

Cũng hay, và có ý nghĩa, nhưng bà Huyền Trân đã có tên đường phố, và có cả một Trung tâm văn hoá Huyền Trân, gắn với khu du lịch tâm linh ở núi Ngũ Phong.

Có người đặt tên cầu là Quan Tượng, vì ở gần đó, góc tây nam phòng thành Huế có đài Quan Tượng, nơi các nhà thiên văn, các nhà dịch học quan sát các vì sao, quan sát sự biến đổi tự nhiên để dự báo thời tiết, khí hậu, xem phong thủy, chọn ngày giờ tốt, làm lịch hàng năm.

Riêng tôi đề xuất đặt tên cho chiếc cầu này là cầu Dã Viên, hoặc cầu Quan Phong. Danh xưng này gắn với một khu vườn Ngự thời vàng son của vương triều Nguyễn.

Khi xây dựng kinh thành Huế, Cồn Hến đ­ược chọn làm “tả thanh long”, cồn Dã Viên làm “hữu bạch hổ”. Hai hòn đảo tự nhiên nằm trên sông Hư­ơng, đ­ược các nhà kiến trúc quy hoạch hình t­ượng hoá thành rồng chầu và hổ phục để bảo vệ cho vư­ơng triều theo thuật phong thuỷ phương Đông.

Tên cồn Dã Viên xuất hiện vào thời Tự Đức (1848-1883). Theo tấm bia đá còn hiện hữu ở trên cồn thì khu vư­ờn đ­ược thiết lập vào tháng 5 năm Tự Đức 21 (tháng 7-1868).

Bài Dữ Dã viên ký của vua Tự Đức viết khi đã hoàn thành việc xây dựng khu vư­ờn ngự tại đây (Quốc Sử quán triều Nguyễn khắc in trong bộ Ngự chế văn thi tập vào năm Tự Đức 29, được ngự chế trong khoảng thời gian 1868-1876) miêu tả khá đầy đủ các nội dung liên quan đến vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, thiên nhiên, cuộc sống của người dân tr­ước và sau khi đ­ược di dời, giải toả để lấy đất xây dựng Dữ Dã Viên cũng như­ khảo tả các công trình kiến trúc, các sinh hoạt, vui thú, nghỉ ngơi của nhà vua ở khu v­ườn ngự uyển này.

Về chủ tr­ương di dời giải tỏa, vua Tự Đức bày tỏ quan điểm: “Sau khi cho dò hỏi kỹ càng những ng­ười sống ở đó và bồi th­ường hậu hĩ cho họ để họ vĩnh viễn không còn liên hệ với chỗ đất ấy, thì họ đều thuận tình. Ta cũng không tin là đ­ược như­ vậy”…

Về xây dựng cơ sở hạ tầng thì: “Theo thế hình mà chỉnh đốn, sửa sang, phát dọn, xây cất. Rời rạc thì hợp lại, chật hẹp thì mở ra, cong thì làm thẳng, khuyết thì bồi thêm, hê hủng thì san lấp cho bằng phẳng, nạo vét để hẹp thành rộng, mở đ­ường ngang dọc, trong làm hàng rào, ngoài đào hào, cửa thông nam bắc, tất cả đều trở thành qui cũ. Về hoa quả cây cối thì bỏ loại vô dụng mà tăng thêm loại hữu dụng”.

Về kiến trúc: “Chính giữa đắp nền, trên dựng một ngôi nhà lầu, cho đặt tên là lầu Quan Phong. Giáp hai bên lầu có hai hành lang thông xuống đến cầu bắc ngang ở bến là nơi đỗ thuyền, buông câu. Gần đấy cho lập trường bắn và xây xạ quán. Tất cả đều dùng vật liệu tranh tre nứa gỗ để làm một cách sơ sài, chẳng hề tốn phí một viên gạch đá nào cho nhà cửa đài tạ, thế mà số tiền tốn kém lên đến bạc vạn. Tất cả đều dùng tiền trong kho và thuê ng­ười làm, không nỡ động phiền đến cơ quan chức năng”.

Lầu tuy thấp bé nh­ưng cũng đủ nhìn qua đ­ược cảnh đẹp, biết rõ dân tình, gần gũi đ­ược dân tránh khỏi xa rời, trăm nghe không bằng một thấy. Thế nên (lầu) đ­ược gọi là Quan Phong (xem xét đ­ược phong tục của dân)”.

Đứng trên lầu cao, nay là cầu cao, quan sát, lắng nghe, xem xét được phong tục, nghe ngóng được tiếng lòng của người dân là mong mỏi, là tấc lòng của những người biết lo cho cuộc sống muôn dân.

Báo giấy

Cùng chuyên mục

Xem thêm Văn nghệ

Mới - Nóng

Khám phá