Than vay, khóc mướn

TP - Sự việc cô dâu Việt Nam Thạch Thị Hồng Ngọc bị người chồng Hàn Quốc giết sau ngày cưới không phải tin xấu đầu tiên trên báo chí Việt Nam về hôn nhân ngoại tịch.

Trong mười hai năm qua, kể từ khi có làn sóng các cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại, nhiều bi kịch đã được báo chí trong nước đưa tin, thậm chí, dường như mô-típ chung trên các phương tiện truyền thông là: Nghèo - lấy chồng ngoại - bi kịch - xã hội quan tâm. Nhưng nếu các cô gái lấy chồng nội, các cô vẫn phải đối diện các nguy cơ như bị giết, bị ăn bám, bị hành hạ tàn nhẫn, v.v... mà chưa được xã hội hỗ trợ can thiệp ngay tức thời, có những cô phải chịu bạo lực gia đình tới 30-40 năm.

Tôi muốn đặt ngược lại trình tự này, một cách lý tính: Tại sao không phải là “Xã hội quan tâm – vẫn bi kịch – vẫn lấy chồng ngoại – vẫn nghèo”? Hay là bởi mấu chốt đầu tiên “Xã hội” đã hẫng hụt? Xã hội đã dõi theo Ngọc thế nào, cho đến tận khi cô chết? Nói một cách khác, chúng ta đã đứng ở đâu khi Hồng Ngọc lớn lên, khi gia đình cô nghèo, khi cô mười tám tuổi, khi vô nghề nghiệp lang thang lên thành phố, quyết định đời mình, quyết định hôn nhân?

Di dân và tự do hôn nhân là quyền quyết định của mỗi một người, không ai có quyền bắt ép một cô gái phải yêu ai, yêu người hơn mấy tuổi, phải “không được lấy chồng Hàn”, hay “không được lấy chồng Đài Loan già tàn tật”. Vậy, trách nhiệm của xã hội và sự can thiệp điều chỉnh của cơ quan quản lý có thể xuất hiện ở đâu, để hỗ trợ những cô dâu như Hồng Ngọc trên đường họ tìm kiếm cuộc sống hạnh phúc?

Hồng Ngọc chỉ có lỗi nếu Hội phụ nữ cơ sở đã tư vấn ít nhất 40-50 giờ cho cô về sự lựa chọn hôn nhân và kỹ năng sống, nếu Sở Ngoại vụ, Sở Tư pháp đã sát hạch được trình độ tiếng Hàn của cô và tiếng Việt của chú rể đủ để giao tiếp xây dựng cuộc sống chung, luật sư cũng đã tư vấn cho cô các vấn đề pháp lý để tự bảo vệ bản thân trước khi cô xin visa, thế nhưng cô vẫn kiên quyết lấy kẻ sát nhân tiềm năng.

Tôi mong muốn được thấy những chứng nhận ấy, như mong được thấy những chứng minh trách nhiệm của xã hội trước khi một cô gái dấn thân vào bi kịch của mình. Nếu không, những gì chúng ta xót thương đau đớn nó chỉ nằm ở cảm giác tức thời đối với một cô dâu đã chết, chứ không làm chúng ta có trách nhiệm hơn chút nào với những cô dâu lấy chồng ngoại còn chưa chết.

Tôi nghĩ, những đau xót mà chúng ta đang cảm nhận, và những lời trách móc những cô dâu ít tìm hiểu chồng ngoại mà đã kết hôn, thực ra ở một góc độ nào đó là những lời kết tội dành cho chính những người không lấy chồng ngoại chúng ta.

Trong thời gian năm năm tham gia các dự án hỗ trợ và chăm sóc di dân tại Đài Loan, tôi phải tiếp xúc với khá nhiều các bi kịch hôn nhân ngoại tịch của các cô dâu Việt Nam. Và thấy, không thể đổ lỗi cho một phía hoặc chỉ đổ lỗi cho hôn nhân giữa hai cá nhân quá khác biệt, mà phải nhìn rộng ra những chênh lệch văn hóa và kinh tế của cả một xã hội, những ý thức và thay đổi “chậm rãi” của cộng đồng không theo kịp mong muốn của cá nhân và mỗi gia đình. Hơn nữa, những gì dẫn tới bi kịch hoàn toàn có thể ngăn chặn ngay từ đầu, từ lúc cô còn ở Việt Nam, cô có quyền chọn lựa tương lai khác.

Chứ không phải chỉ bằng những lời tiếc thương, cảnh tỉnh khi cô dâu đã chết.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Chuyện hôm nay

Mới - Nóng

Khám phá