Chị Quý

TP - Vừa về tới mộ chị Quý, tôi vội chạy ra phía sau lưng tấm bia đá đã bạc màu thời gian. Tôi tìm lại thời gian của chính mình, trong hồi ức cứ luôn bồi hồi thao thức suốt mấy chục năm. Đây rồi! Vẫn những dòng chữ ấy: “Bia tưởng niệm – do gia đình nhà văn Dương Thị Xuân Quý lập trên phần đất của ông bà Võ Bắc – Hồ Thị Anh tặng. 12.2.1996”. Chếch phía trên là hai câu thơ của Bùi Minh Quốc “Thôi em nằm lại/ Với đất lành Duy Xuyên”.

Gia đình nhà thơ Bùi Minh Quốc trước mộ chị Quý sáng ngày 7 tháng 3 năm 2019
Gia đình nhà thơ Bùi Minh Quốc trước mộ chị Quý sáng ngày 7 tháng 3 năm 2019

Tìm lại, bởi đầu buổi chiều tháng Hai nắng quày quả khắp những khóm tre bụi chuối nơi này của 23 năm về trước, tôi đã cùng anh Quốc thắp những nén hương đầu tiên dưới khối đá thiêng ấy, sau lễ đặt bia chính thức chọn nơi “nằm lại” cho chị.

Tôi giờ vẫn còn cầm theo đây bản đánh máy chữ trên giấy bổi đen xạm bài viết hôm ấy với cái tít đề “Và em gọi đó là hạnh phúc…”. Cho báo Tiền Phong số thứ Ba 8/3/1996. Kể rằng, để chuyển được khối đá trắng Non Nước cao hơn 2 mét nặng 2 tấn ấy qua nhiều cây số đường làng rồi đường ruộng vào tận xóm sâu này, người làng đã bỏ công sức, tiền bạc sửa lại con đường ngang qua ruộng, rồi kiếm bằng được chiếc xe/cộ đủ sức chuyển vào tận nơi. Nên đâu phải chỉ mảnh ruộng vườn rộng lớn mà vợ chồng anh Võ Bắc tặng lại cho gia đình anh Quốc để làm khu tưởng niệm nữ nhà văn liệt sĩ. Tôi nhớ kể từ bữa đó đã có 3 lần cùng anh Quốc và bạn bè văn nghệ về đây viếng hương chị. Nhưng không thể biết từ ngay sau 1975, đã bao nhiêu lần Bùi Minh Quốc đã lặn lội về cái xóm Xuyên Tân này tìm vợ.

Thời ấy nghe nhiều người tuổi đã trung niên kể lại rằng, cứ mỗi lần anh Quốc về, là vợ chồng anh Bắc cùng trai tráng trong xóm bỏ công việc giúp anh đào tìm hài cốt của vợ. Xới tung ruộng vườn. Đào hết khu vực giếng, lại đào sâu hơn 2 mét xuyên qua bụi tre dẫn đến vị trí hầm bí mật ngày xưa. Nhưng di vật kiếm được duy nhất là tấm vải dù và một số tre mục của căn hầm. Cho đến sau này khi xuất hiện một nhà ngoại cảm…   

Anh Bắc sau chừng ấy năm, nay đã bước vào tuổi già. Nhưng vẫn đó trên gương mặt xạm đen cái nét hiền hiền, khắc khổ, trầm lặng. Ruộng vườn, lối đi, nhà cửa anh bây giờ đã khang trang thoáng đãng hơn xưa, xung quanh những vạt đậu phộng đầu mùa vươn lên xanh um. Trên đường làng, hỏi chuyện, kể cả thanh niên trẻ nhỏ ai cũng vanh vách với tôi về chị Quý. Rồi bảo “Bà Quý linh thiêng lắm!”.

… Lúc này phía trước bia chị Quý mọi người đang sửa soạn mâm cúng tròn 50 năm ngày chị hy sinh. Bùi Minh Quốc, vợ chồng con gái Bùi Dương Hương Ly từ Anh quốc về. Vợ và con gái nhà văn Nguyên Ngọc, các nhà thơ nhà văn Thanh Thảo, Thái Bá Lợi, Hồ Duy Lệ, Nguyễn Bá Thâm, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán từ Hà Nội vào, anh em Hội văn nghệ Quảng Nam…

Đây là lần đầu tiên tôi gặp mặt Ly. Dẫu đã đọc Nhật ký chiến trường của chị Quý từ mấy mươi năm trước. Cuốn “Dương Thị Xuân Quý - Nhật ký, tác phẩm” NXB Hội nhà văn in năm 2007 do Bùi Minh Quốc, Hoàng Minh Nhân và Nguyễn Thế Khoa sưu tầm, biên soạn. Cuốn sách do nhà thơ Hoàng Minh Nhân tặng. Nhà thơ của bài “Hầm chữ A” Hoàng Minh Nhân đã chia xa cũng vào một ngày đầu tháng 3 năm 2011. Một người nặng nợ với những trang văn và người miền Trung, dành gần cả đời mình làm sách về họ. Biết bao cuốn sách ra đời…

Những dòng đầu tiên của nhật ký, chị Quý ghi lại cái đêm cuối cùng ở với con gái Hương Ly, để sớm mai vào chiến trường. Đêm 10/4/1968. Khi ấy cô bé Ly mới 16 tháng tuổi. Hai mẹ con lên bờ đê. Trăng cũng vừa lên. “Gió lộng, mình thủng thẳng dắt Ly đi dạo trên đê. Những phút ấy sao êm đềm và hạnh phúc đến thế. Rồi sợ gió nhiều mình vội đưa Ly về và hai mẹ con đã chơi một tối trăng tuyệt diệu. – “Ông trăng đâu Ly?”. Ly ngửa mặt lên và cười – “Đầy!”. Mình bỗng khám phá ra một điều kỳ lạ: trong mắt Ly, giữa hai con ngươi lóng lánh, có hai chấm vàng nhỏ xíu bằng đầu kim lay động. Ông trăng đã in trong mắt Ly. Mình nghĩ ngay đến những chặng đường hành quân sắp tới. Mỗi khi nhìn trăng, mình sẽ nhớ rằng ông trăng ấy chính là ở trong mắt Ly...”.

“Có một lúc mình bỗng thấy Ly cười: “Quốc!, Quốc!”. Ly nói Quốc rất rõ, không ngọng nghịu tý nào. Rồi Ly gọi “Quý! Quý!”, Ly tròn miệng: “Bố! Bố!”. Mấy tiếng ấy Ly thường nói liền nhau. Mình ứa nước mắt. Không biết bao giờ Ly mới được sống gần bố. Nếu mình vào và anh được ra với Ly thì mình sung sướng quá”.

Nhật ký ngày 3/5/1968 ghi trên đường Trường Sơn: “Mùa hè năm ngoái, chính vào những ngày này đây, Anh chuẩn bị lên đường và mình thì tái người vì nỗi nhớ... Lúc ấy cả em và anh không ai hình dung nổi sau đúng một năm thôi, em lại đi trên quãng đường anh đã đi”.

Ghi trên đường hành quân vượt Trường Sơn băng qua đất Lào: “Ly ơi. Đêm qua mẹ nhớ Ly vô hạn. Ở nhà ai cắt móng tay cho con? Ai ngoáy tai cho con? ... “một tháng qua con sống sao hở Ly? Con có khoẻ không? Có bị sốt, bị đi ỉa chảy không?”.

Hai vợ chồng gặp nhau giữa chiến trường Quảng Đà đầu tháng 7/1968. Nằm bên nhau, sát bên là võng của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và nhiều người. B52 bất ngờ dội xuống. Nhường vợ cái hầm ếch duy nhất, Bùi Minh Quốc và Chu Cẩm Phong (Trần Tiến) chỉ còn biết ngồi nấp dưới gốc cây. Loạt B52 đầu tiên mấy hôm trước đó hai vợ chồng còn không có hầm, phải nằm rạp trên đám cỏ. Những trận bom liên tục dội xuống, không còn biết chạy đâu. Bốn đợt với 12 trận bom B52 dội xuống trong một đêm. Cướp đi 17 bộ đội, nhiều người bị thương.

Ở bên nhau được hơn 1 tháng, lại chia tay. “Anh đi về Quảng Đà phía nam. Anh chìa tay “Nào/ đồng chí/ bắt tay” (thơ Nguyễn Đình Thi). Mình ngoảnh mặt đi, cố nén, cố nén... Anh có biết không, nhìn Anh lúc ấy thì em khóc mất... Anh đi, một mảnh ni lông che mưa không có, chỉ có nửa mảnh nhỏ rách tươm. Bảo anh mang ni lông của mình đi, anh nhất định không mang. Thuốc đánh răng không có. Có chiếc thìa lại cụt...”. Đêm xa anh, B52 lại dội, ngay vào nơi chị Quý vừa di chuyển. “Tưởng tượng đêm đó mình nằm lại, một trận B52 trút xuống. Mình tan xác. Mình mất tích. Không ai biết mình ở đâu. Nỗi đau đến với Anh và Ly thật vô hạn, vô hạn”.

Bài thơ tình đầu tiên Bùi Minh Quốc viết tặng vợ “Bài thơ tình yêu” (sau được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc với cái tên “Cuộc đời vẫn đẹp sao”), được viết ra  buổi chiều ngày 7/3/1969. Dưới căn hầm bí mật còn hằn vết xích xe tăng của địch ở xã Bình Dương (Thăng Bình). Lúc ấy, Dương Thj Xuân Quý cũng đang dưới hầm bí mật ở Xuyên Tân (Duy Xuyên). Cách hơn hai chục cây số đường chim bay. Bùi Minh Quốc chép lại bài thơ vừa viết xong, khấp khởi “mường tượng ít ngày nữa ra Quảng Đà gặp Quý, cho Quý đọc, chắc Quý thích lắm đây”. 

Nhưng chị Quý không bao giờ được đọc những câu thơ ấy. Khoảng 9 giờ tối ngày 8/3/1969, lính Nam Hàn phát hiện khui hầm bí mật. Chị Quý cùng 3 du kích bật hầm lao lên… Chị dính một loạt đạn… Sau trận càn, lính Nam Hàn còn chốt giữ nơi ấy nhiều ngày, cày ủi khắp nơi. Thân xác chị không còn nữa… Giây phút cuối cùng ấy, không đồng đội nào nghe được lời nói cuối cùng của chị. Nhưng với Nguyên Ngọc, ông cứ mãi “tin lời cuối cùng của chị là một tiếng gọi: Con!”.

Giờ đây tôi nhiều lần chứng kiến cảnh những đoàn người Hàn Quốc hàng năm kéo nhau về những mảnh đất Duy Xuyên, Điện Bàn, Hà My này. Họ đến để quỳ lạy, để sám hối thay cho những bà con anh em mình từng gây ra những vụ thảm sát kinh hoàng nơi đây. Đoàn người sám hối ấy đa phần là trí thức, văn nghệ sĩ, nhà hoạt động xã hội. Không biết trong số ấy có ai biết nhà văn Dương Thị Xuân Quý và đọc những trang viết của chị?

*

Đến bây giờ tôi cứ nghĩ hoài về câu thốt lên của nhà văn Nguyên Ngọc, người thủ trưởng từng chứng kiến những ngày tháng khốc liệt của chị Quý ở chiến trường Quảng Đà – Khu Năm. “Thật bất công nếu không gọi chị là một người anh hùng!”.

Không phải về một danh hiệu “anh hùng” cần được ai đó phong tặng, mà tôi cứ nặng lòng với câu hỏi cần giải mã về sự dấn thân đáng kinh ngạc của thiếu phụ 27 tuổi mảnh dẻ, chân yếu tay mềm lớn lên giữa đất Hà thành kinh kỳ. Gác lại sau lưng công việc quen thuộc, cha mẹ già, gia đình nhỏ với đứa con dại chưa đầy hai tuổi, khoác ba lô vào chiến trường khốc liệt bậc nhất miền Nam thời ấy để làm một người lính cầm bút.

Chỉ đến khi lang thang khắp cả 5 con đường mang tên những người dòng họ Dương làng Phú Thị (Mễ Sở, Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) mà thành phố Đà Nẵng đặt tên, tôi mới xâu chuỗi được cảm xúc của mình. Là con đường mang tên Dương Thị Xuân Quý ở Bắc Mỹ An gần biển Mỹ Khê quận Ngũ Hành Sơn bên kia sông Hàn. Cách đó không xa là con đường mang tên Dương Tụ Quán – cha ruột của Dương Thị Xuân Quý. Ngày 8/3/1969, con gái ngã xuống giữa chiến trường, thì chỉ ít hôm sau, ngày 27/3/1969 ở Hà Nội người cha cũng lặng lẽ từ biệt cõi trần. Và tại Đà Nẵng trong một ngày, hai cha con ấy cùng được đặt tên đường, theo Nghị quyết ngày 6/12/2012. Có lẽ là một trong những chữ ký cuối cùng của ông Nguyễn Bá Thanh trên cương vị Chủ tịch HĐND thành phố Đà Nẵng?

Đi trên những con đường mang tên Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm nằm sát bên nhau ở Hòa Cường Nam, quận Cẩm Lệ – cũng là hai người bác ruột của Dương Thị Xuân Quý. Và con đường mang tên danh họa Dương Bích Liên – anh con bác ruột của chị Quý. Những người lừng danh họ Dương ấy lần lượt được gắn biển tên đường các năm 2007, 2008, 2009.

Những người họ Dương ấy là những chí sĩ, nhà giáo, nhà văn, nhà báo lừng danh, từng bị bắt bớ, lưu đày nhưng không bao giờ chịu buông bỏ khí tiết. Nghĩ dẫn lại đây đôi câu đối cụ Bùi Kỷ khóc chí sĩ, nhà văn Dương Bá Trạc tại Hà Nội năm 1945, cũng là đủ. “Ngẫm cho phải, thác thì đành hẳn, thác để tuổi để tên, để lại một đời tiết nghĩa, thác cũng là vinh/ Suy đến nơi, sống phải thế nào, sống còn nhà, còn nước, còn muôn nỗi ưu nan, sống sao khỏi hổ”. Thì tiếp nối dòng máu và trí tuệ ấy, tôi nghĩ làm sao có thể có một Dương Thị Xuân Quý khác được!                                                                                                   *

Buổi chiều tại Đà Nẵng trong lễ ra mắt cuốn “Nhật ký chiến trường” tái bản, gặp lại Bùi Dương Hương Ly, tôi hỏi đúng một câu: “Sau 50 năm, Ly nghĩ gì về mẹ Quý?”. Nữ phóng viên đài BBC ấy đáp rất nhanh: “Tôi lần đầu biết mẹ vào năm 1975. Bà ngoại cho xem ảnh mẹ và kể về mẹ. Lúc đó tôi 9 tuổi. Tôi làm báo, đã đi các chiến trường và các điểm nóng xung đột trên thế giới, Afghanistan, Yemen,... và tới đây ít hôm nữa là Iraq. Tôi nghĩ rằng mình phải làm gấp đôi phần của Mẹ”.

Nhớ lúc ở Duy Xuyên, lễ cúng xong vợ chồng Ly ngồi hoá vàng cho mẹ Quý. Ngay trên cái sân xi măng rộng mênh mông, mà tôi đồ rằng chị Quý còn đang nằm dưới ấy. Gương mặt Ly cúi xuống. Tôi không biết trong đôi mắt ấy có ánh trăng nào như mẹ Quý vẫn mường tượng suốt những ngày ở chiến trường không. Nhưng tôi biết, trong mắt Ly, đang có lửa...

Duy Xuyên, 7/3/2019

Đỗ Hồng Lân, giáo viên Tổng phụ trách đội trường Tiểu học Duy Thành (xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) tọa lạc không xa khu tưởng niệm nhà văn Dương Thị Xuân Quý, kể: Hơn 10 năm qua, Liên Đội nhà trường đã nhận chăm sóc mộ nhà văn-liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý. Đây cũng là phần việc Măng Non đăng ký với Hội đồng Đội huyện. Các bạn nhỏ hàng tháng đến vệ sinh khu vực di tích, nhổ cỏ và viếng hương. Nơi đây cũng thường xuyên là địa điểm để tổ chức lễ kết nạp Đội viên và tuyên dương cháu ngoan Bác Hồ. Hàng năm vào dịp 22/12 nhà trường mời các nhân chứng lịch sử đến nói chuyện dưới cờ, để học sinh hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý.

Chị Quý - ảnh 1 Đường Dương Thị Xuân Quý tại Đà Nẵng
Chị Quý - ảnh 2 Nhà thơ Bùi Minh Quốc cùng các cháu học sinh trường Duy Thành
Chị Quý - ảnh 3 Vợ chồng Bùi Dương Hương Ly hóa vàng tại nơi mẹ Quý ngã xuống 50 trước

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá