Hiệp định Paris nhìn từ phía bên kia

TP - Ngày 18 tháng 11, hai ngày trước khi hòa đàm tái nhóm tại Paris, Thiệu mời Đại sứ Bunker đến và trao cho ông ta một bức giác thư đề nghị sáu mươi chín sửa đổi cho bản Hiệp định.

>> Kỳ trước

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh đến Paris để ký hiệp định hòa bình, sân bay Bourget ngày 25 tháng Giêng 1973. Ảnh: Tư liệu

Gần như điều khoản nào cũng có ghi một câu phản đối, trong đó mục đích tố cáo với Nixon là Kissinger đã cẩu thả, hoặc đã nhượng bộ BV.

Đồng thời Thiệu đề nghị gửi phụ tá ngoại giao Nguyễn Phú Đức, qua Hoa Thịnh Đốn để giải thích về những sửa đổi cần thiết. Biết rằng, Kissinger sắp lên đường qua Paris để gặp Lê Đức Thọ, Thiệu hi vọng rằng sứ giả của mình có thể gặp được Nixon ở Hoa Thịnh Đốn mà không có sự hiện diện của Kissinger, cùng lắm, chỉ có Tướng Haig là người còn có thiện cảm với miền Nam.

Thế nhưng, Kissinger lại cho việc Thiệu đề nghị gửi một sứ giả qua Mỹ là “một cái tát vào mặt tôi và là một chiến thuật tránh né lỳ lợm vì không có cách nào một người sứ giả có thể đến kịp Hoa Thịnh Đốn trước khi tôi phải khởi hành”.

Muốn giữ chặt các cuộc kiểm soát trước cuộc thương thuyết, Kissinger nhất định yêu cầu Nixon để ông có mặt trong buổi họp. Theo Kissinger, thì Nixon đã “gửi Thiệu, một lá thư lạnh lùng, cảnh báo là những thay đổi không thể nào đạt được tất cả và từ chối không tiếp một sứ giả cho đến khi nào các cuộc thương lượng với Hà Nội sắp tới được hoàn tất”.

Thực ra lá thư đã có lời lẽ rất là hòa dịu. Nội dung lá thư ngày 18 tháng 11 đó như sau:

Kính thưa Tổng thống,

Tôi đã hết sức cẩn thận đọc bức thư ngày 18 tháng 11 của Chính phủ VNCH. Tôi tin chắc Ngài đã thừa hiểu những khó khăn xẩy cho chúng tôi khi Ngài đưa ra một danh sách đòi rất nhiều những sửa đổi khác sau khi đã có biết bao đề nghị sửa đổi mà chúng ta đã thảo luận.

Dù sao chăng nữa, tôi sẽ chỉ thị cho TS Kissinger tìm cách để đưa ra những đề nghị của Ngài một cách tối đa. Tuy nhiên, tôi phải xin giải thích với Ngài rằng, thứ nhất nếu viết vào Hiệp định một cách rõ ràng về vấn đề quân đội BV tại miền Nam thì có điều bất lợi là như thế ta đã hợp thức hóa bất cứ lực lượng nào còn ở lại và thứ hai, như chúng tôi đã nói nhiều lần việc đó hiển nhiên không thể đòi được.

Thêm nữa, vào lúc này không thể nào thay đổi được thành phần của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Còn về những thay đổi khác, TS Kissinger sẽ trình bầy cho quý Đại sứ (của Ngài tại Paris) biết về những nhượng bộ nào đã đạt được vào buổi chiều mỗi ngày.

Chỉ thị của tôi cho TS Kissinger là làm áp lực tối đa để đưa ra những đề nghị của Ngài. Tuy nhiên, tôi phải xin giải thích là sẽ không thể hủy bỏ bản Hiệp định hoặc đồng ý với những đề nghị chồng chất thêm nữa của Ngài khi những Hiệp định đó cũng sẽ đưa tới cùng một hậu quả (là hủy bỏ Hiệp định). Cho nên có thể là không thể đòi hết được tất cả mọi sự sửa đổi như Ngài muốn.

Riêng về đề nghị gửi một sứ giả qua Hoa Thịnh Đốn, tôi tin rằng, sau hai chuyến viếng thăm của TS Kissinger và ba chuyến của Đại tướng Haig,ba lá thư riêng của tôi cùng vô số những trao đổi qua Đại sứ Bunker cũng như tất cả mọi bức thông điệp của Ngài mà tôi đã được đọc, chúng tôi đã có đầy đủ những đề nghị của Ngài về cuộc thương thuyết trong giai đoạn này.

Cho nên, tôi thiển nghĩ rằng, cơ hội thuận tiện nhất để tôi gặp sứ giả của Ngài là ngay sau cuộc họp tới ở Paris, khi chúng ta đã có được một số vấn đề mới để cứu xét chung. Bởi thế, nếu Ngài lựa chọn ông Đức làm sứ giả của Ngài thì tôi xin đề nghị ông nên qua Hoa Thịnh Đốn trên chuyến máy bay cùng với TS Kissinger ngay sau khi chấm dứt cuộc thảo luận sắp tới tại Paris.

Mặt khác, nếu như Ngài chọn Ngoại trưởng Lắm làm vị sứ giả của Ngài, thì tôi đề nghị ông đó qua Paris ngay và tham dự các cuộc thảo luận tiếp theo mọi phiên họp trong ngày và rồi cùng trở về Hoa Thịnh Đốn với TS Kissinger để họp với tôi.

Một lần nữa, tôi khẩn khoản xin Ngài liên kết với chúng tôi trên đường hướng mà tôi quyết chí theo đuổi. Một lần nữa, tôi cũng phải xin Ngài hiểu rõ mối nguy hiểm lớn lao khi  Ngài làm mất sự ủng hộ của quần chúng tại KH, với tất cả những rủi ro cho sự tiếp tục nỗ lực chung của chúng ta. Lẽ tất nhiên chúng ta sẽ liên lạc mật thiết sau khi các cuộc hòa đàm tại Paris hoàn tất.

Kính
(kt) Richard Nixon

Kissinger đã dằn mặt Thiệu, bắt sứ giả VNCH phải cùng đi máy bay với mình về Mỹ để cùng gặp Nixon! Thiệu thất vọng là Nixon không tiếp ông Đức trong thời gian Kissinger đi vắng. Thế nhưng, ông không còn cách nào khác hơn là chấp nhận phản đề nghị của Nixon.

Trên trang hai lá thư Nixon (mà bản văn đã được Đại sứ Bunker chuyển đạt tới ông ngày 19 tháng 11), Thiệu viết chỉ thị cho Đức là “đi kịp thời”, cùng mang tài liệu theo và theo dõi  tại Balê.

Kissinger tới Paris ngày 19 tháng 11, và họp phiên thứ nhất với Lê Đức Thọ vào ngày thứ Hai, 20/11/1972, tại ngôi nhà cũ của họa sĩ Leger ở Gif-sur-Yvette, ngoại ô Paris. Phe VNCH lập một toán đặc nhiệm để theo dõi hòa đàm. Ba Đại sứ VNCH ở Hoa Thịnh Đốn, London, và tại Hòa đàm Paris đều có mặt.

Đức và Nhã cũng được cử qua Pháp, với nhiệm vụ phụ tá các đại sứ và thảo một bức thư cho Nixon để Đức mang theo Hoa Thịnh Đốn sau khi kết thúc tuần hội họp với BV.

Trước khi đi, Nhã đã xin Thiệu ký tên ở nhiều chỗ khác nhau trên năm trang giấy in con dấu Tổng thống. Làm như thế, khi đánh máy trên trang chót, chữ ký của Thiệu sẽ ở vào đúng chỗ, và không ai sẽ biết là lá thư đã được ký sẵn ở Saigon...

Khi Đức từ Paris sửa soạn đi Hoa Thịnh Đốn để gặp Nixon, thì qua tình báo, Kissinger đã biết được rằng ông Thiệu đang “cố tình làm bế tắc như xưa”.

Ngày 23 tháng 11, Nixon lại gửi cho Thiệu một thông điệp, cùng với con dấu TỐI MẬT/TẾ NHỊ, qua sự chuyển đạt của Đại sứ Bunker. Lá thư với lời lẽ hằn học và đe dọa:

Kính thưa Tổng thống,

Tôi càng ngày càng kinh ngạc và e ngại về những vận động báo chí xuất phát từ Saigon. Có những luận điệu vô căn cứ là cộng sự viên của tôi đã không thông báo cho tôi chính xác về quan điểm của Ngài, cho nên Ngài đã phải cử sangWashington một đặc sứ để hoàn thành công tác ấy. Những lời chỉ trích vô căn cứ đối với bản dự thảo Hiệp định lại vẫn còn đang tiếp tục và càng ngày càng gia tăng.

Thêm nữa, tôi còn kinh ngạc về chiến thuật trì hoãn mà phái đoàn của VNCH đang áp dụng với chúng tôi tại Paris. Đã rõ ràng là đại diện của Ngài ở đó đã không tìm được kịp thời những câu trả lời mà chúng tôi cần phải có nếu muốn trình bầy đầy đủ quan điểm của Ngài trong các cuộc thương thuyết, kể cả những Nghị định thư có liên quan đến bản dự thảo Hiệp định, mà chúng tôi đã chuyển đến chính phủ Ngài tại Saigon khoảng hai tuần lễ trước đây.

Như tôi đã thưa với Ngài  trong các lá thư của tôi đề ngày 8, 14, 18 tháng 11, tôi sẽ tiếp xúc mau lẹ để đi tới một giải pháp cuối cùng nếu chúng tôi có thể kết thúc được tại Paris một bản Hiệp định chót, khả dĩ có thể chấp nhận được trong tuần này.

Vì đã có những văn thư rõ ràng của tôi và những thông điệp do các đại diện của tôi chuyển đến Ngài trong nhiều tuần lễ qua, nên bất cứ sự trì hoãn nào nữa về phía Ngài sẽ chỉ có thể giải thích như một nỗ lực của Ngài để hủy bỏ Hiệp định. Sự việc này sẽ có một hậu quả hết sức tai hại tới khả năng của tôi trong việc tiếp tục yểm trợ Ngài và chính phủ Ngài.

Tôi mong được gặp quý sứ giả tại Washington ngay khi nào các phiên họp ở Paris đã kết thúc, nhưng trong lúc này, tôi phải khẩn khoản xin Ngài một lần chót này là chớ tự mình làm cho chúng ta nghịch nhau mà không có cách nào cứu vãn lại được.

Nếu đường lối hành động hiện nay còn tiếp tục và nếu Ngài không cùng chúng tôi ký kết với Hà Nội một hiệp định thỏa đáng, thì xin Ngài phải hiểu rằng tôi sẽ tiến hành với bất cứ giá nào.

Kính thư
(kt) Richard Nixon

Vào ngày thứ Bảy, ngày 25 tháng 11, Kissinger lại gặp Lê Đức Thọ lần nữa, và cuộc thương thảo đến chỗ bế tắc. Các phiên họp đã được hoãn lại đến mồng 4 tháng Chạp. Phía VNCH mừng rỡ.

Tại Hà Nội, tờ Nhân Dân, trong một bài xã luận ký tên “Người Bình luận” – bút hiệu của Bộ Chính trị – hỏi rằng có phải hành động của Kissinger tại Paris đã là “một đòi hỏi ta phải hoàn toàn xét lại vấn đề hay chăng?

Đây có phải là một mánh khóe để kéo dài các cuộc thảo luận với hy vọng che đậy những hành vi leo thang và kéo dài chiến tranh để tiếp tục theo đuổi một thắng lợi quân sự ảo tưởng hay không?”.

Kissinger trở về Washington, Nguyễn Phú Đức họp riêng với toán đặc nhiệm tại Paris để soạn thảo một lá thư dài hai – mươi – lăm trang mang chữ ký của Thiệu, để gửi cho Nixon trong nỗ lực phá vỡ kế hoạch của Kissinger và lấy được thiện cảm của Nixon.

Ngày 29 tháng 11, Đức và Đại sứ Phượng được Kissinger đưa vào Bạch Cung để trình – Kissinger mô tả – “một lá thư hết sức dài  hùng biện của Thiệu gửi Nixon”.

Trong thư, Thiệu kể lại những nhượng bộ mà Saigon đã phải chấp nhận trong những năm qua với lời hứa hẹn của HK là sẽ không bắt Sài Gòn phải nhận thêm một nhượng bộ nào nữa. Nhưng Mỹ đã bội ước. Thiệu còn nói ông có thể khiếu nại với dư luận thế giới nếu những đòi hỏi “chính đáng” của VNCH không được thỏa mãn.

Trong hồi ký, Kissinger sau này nhận định rằng “tất nhiên, Thiệu nói đúng, điều bi thảm là những gì Thiệu coi là áp lực quá quắt  của chúng tôi thì lại bị nhiều người chỉ trích là chưa đủ và còn coi ta là ngoan cố thô bỉ.

Chúng tôi đã phải chèo lái trong cái vực biển chia cách đó: Chấp nhận quan điểm của Thiệu vào giờ phút muộn màng lúc đó ắt sẽ bảo đảm sự sụp đổ của mọi ủng hộ còn lại tại quốc nội”. Kissinger đã quên không viết là lúc ấy, ông đang muốn khuyến khích một cái nhìn tiêu cực về Thiệu trong các cuộc gặp gỡ riêng tư với giới báo chí Mỹ.

Nixon quyết tâm thuyết phục Thiệu là bản Hiệp định cần phải được ký kết, không thể trì hoãn thêm nữa, và giữa ông ta với Kissinger không có một dị biệt nào hết.

“Chúng tôi hồi ấy nghĩ rằng, nếu trình bày thẳng thắn một cách tàn bạo cho Đức biết (tình hình) thì Thiệu chắc chắn sẽ phải nhận  thức được cái bấp bênh trong tư thế của ông ta và mối nguy cơ ông sẽ gặp phải nếu bị bỏ rơi.

Tôi nói với ông Đức rằng không phải là vấn đề thiếu thông cảm với tình trạng khó khăn  của Saigon, nhưng ta phải đương đầu với thực tế của tình hình. Nếu ta không chấm dứt chiến tranh bằng cách ký kết hòa giải trong phiên họp tới ở Paris, thì khi tái nhóm vào tháng Giêng, Quốc hội sẽ chấm dứt chiến tranh bằng cách cắt giảm viện trợ”.

Lấy giọng điệu tàn nhẫn, Nixon giải thích là không thể có con đường nào khác cho HK chọn lựa. Ông nói là Hội đồng hòa giải dân tộc chẳng thể mô tả là một chính phủ liên hiệp được, bởi nó là một tổ chức được điều hành theo nguyên tắc nhất trí (nghĩa là bất cứ quyết định nào cũng cần phải có cả 3 bên đồng ý mới được), chỉ có vai trò tư vấn, được các phe đồng tuyển lựa và có rất ít nhiệm vụ  đặc thù.

Ông nói là HK không thể quay trở lại được nữa, và dù thái độ của Saigon thế nào đi chăng nữa, nó cũng không định đoạt được kết quả của cuộc đàm phán, mà còn có thể ảnh hưởng đến khả năng của HK cung ứng viện trợ cho VNCH sau khi đình chiến, và khả năng của Hoa Kỳ bảo đảm cho Hiệp định.

Ông Đức nhất định bám chặt lấy những chỉ thị đã nhận được, ông ngồi nghe cẩn thận và khẳng định là VNCH không hề có ý muốn đương đầu, chống chọi. Sau đó, Nixon đề nghị Kissinger và Đức hội với nhau để tìm một “giải pháp thực tế”.

Đức gặp Kissinger hai lần, và hội với Nixon một lần nữa. Nixon trấn an Đức rằng ông tin chắc sẽ có đủ khả năng để phát giác nếu BV còn xâm nhập xuống miền Nam.

Rồi ông bàn đến những kế hoạch để đối phó với những trường hợp BV vi phạm đình chiến, kế hoạch đã được các tham mưu trưởng liên quân HK soạn thảo để phòng hờ những vi phạm đó. Một lần nữa, Nixon lại cảnh báo là nếu thỏa hiệp không được ký kết, Quốc hội có thể sẽ cắt viện trợ vào khoảng giữa tháng Giêng.

Đó là lần đầu tiên Nixon và Kissinger phác họa cho VNCH biết một kế hoạch quân sự tối mật nhằm theo dõi các đơn vị, căn cứ của quân BV kể cả sau ngưng bắn.

Nixon cho hay là sẽ có một hệ thống liên lạc nối liền Đệ thất không lực HK tại “NKP” (tiếng lóng của quân sự để gọi căn cứ không quân Nkorn Phanom ở Thái Lan) với Saigon và bộ tư lệnh bốn vùng chiến thuật ở miền Nam.

Các tư lệnh quân lực VNCH sẽ có thể trực tiếp liên lạc với tư lệnh Đệ thất không lực HK là Tướng John W.Vogt, tại căn cứ Thái Lan và các mục tiêu sẽ được cập nhật hóa hàng tuần.

Kế hoạch mật này đã có một tác dụng lớn khiến Thiệu yên tâm là HK thực sự cam kết bắt BV tôn trọng Hiệp định. Thiệu còn được thông báo rằng từ Thái Lan, máy bay chiến thuật sẽ được phóng đi tấn công BV và những cuộc oanh tạc bằng B – 52 sẽ được phối hợp với VNCH nếu BV vi phạm thỏa hiệp.

Trong các lá thư gửi cho Thiệu, rồi trong buổi họp với Đức, Nixon đã lập đi lập lại hoài rằng HK cam kết sẽ quyết tâm bắt BV phải tôn trọng đình chiến và trả đũa nhanh chóng và mạnh mẽ nếu BV vi phạm hiệp định.

Theo ông, thì việc này còn quan trọng hơn cả hiệp định nữa. Đường dây liên lạc nối với căn cứ HK tại Thái Lan là một bảo đảm cụ thể dưới mắt Thiệu và ông chắc chắn là nó sẽ được sử dụng.

Trở về sứ quán sau cuộc gặp gỡ với Nixon, Đức bảo Nhã là ông và Phượng có cảm tưởng Nixon đã ngạc nhiên về nội dung lá thư mới được chuyển tới.

Dù Nixon đã không thay đổi lập trường, phía Việt Nam tin rằng mình đã chiếm được chú tâm của Tổng thống HK đến những mối quan tâm của Saigon và đã đặt Kissinger vào thế thủ, ngoài ra, còn mua thêm được thời giờ trước khi ký kết hiệp định. Nói cách khác, Nixon đã bắt buộc phải lựa chọn giữa Hà Nội và Saigon.

Đức bay về Saigon phúc trình cho Thiệu về chuyến đi HK, nhưng Thiệu vẫn không phản ứng gì. Phía HK, Nixon bèn tham khảo với Kissinger và nói rằng ông tin Thiệu đang chơi trò “thi gan lì”, và HK có lẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là tấn công ông Thiệu.

Ngày mồng 4 tháng Chạp, hòa đàm tái nhóm tại Paris. Người ta nhận thấy là BV đang tự kìm hãm và sẽ khó mà đi tới được thỏa hiệp.Trong một phiên thảo luận riêng với Kissinger, Lê Đức Thọ buộc tội HK là đang cố gắng củng cố “chính quyền bù nhìn” ở Saigon.

Kissinger bèn đánh điện cho Mạc-tư-khoa và thúc Liên Xô dùng uy thế để áp lực Hà Nội; Nga khuyên Hoa Thịnh Đốn nên kiên nhẫn. Phó Tổng thống Agnew chực sẵn ở Washington đợi tin mới từ Paris để bay qua Saigon, thảo luận về bản dự thảo Hiệp định chót với Thiệu. Kissinger vẫn thúc bách mọi phe lấy ngày 22 tháng Chạp làm hạn chót.

Ngày 7 tháng Chạp, Kissinger và Lê Đức Thọ lại gặp nhau trong bốn tiếng đồng hồ nữa, và Kissinger cảm thấy là triển vọng thỏa hiệp đang xa mờ dần.

Dường như đã ý thức được lập trường của Nixon sau khi gặp Đức là muốn có bảo đảm chắc chắn cho VNCH với những cam kết sẽ trả đũa BV nếu họ vi phạm đình chiến, Kissinger khôn khéo điện từ Paris về cho Nixon nói lại luận điệu cũ là tuy Hà Nội sẽ không bao giờ từ bỏ mộng thôn tính miền Nam nhưng họ sẽ đổi chiến lược từ quân sự sang chính trị và chỉ hướng về tranh đấu chính trị mà thôi.

Điều này thì chắc là lọt tai Nixon: Ông cho là Saigon đủ sức tranh đấu chính trị, còn nếu Hà Nội đánh lớn, thì ông sẽ can thiệp. Điện tín của Kissinger như sau:

Sau khi thăm dò thêm ý định của Hà Nội, bây giờ ta đã thấy hiển nhiên là họ đã không hề từ bỏ những mục tiêu hay tham vọng của họ đối với Nam Việt Nam. Điều họ đã làm là quyết định thay đổi chiến lược bằng cách chuyển từ chiến tranh quy ước và chủ lực sang một chiến lược chính trị và nổi dậy trong khuôn khổ dự thảo Hiệp định.

Cho nên, chúng ta không thể trông đợi một nền hòa bình trường cửu tiếp theo sau một Hiệp định đã hoàn thành, mà chỉ là một sự chuyển hướng trong cách thức tranh đấu của Hà Nội mà thôi.

Có lẽ chúng ta sẽ có ít cơ hội duy trì thỏa ước mà không có được một sự chuẩn bị mau nhậy rõ rệt từ phía HK, để bắt tôn trọng các điều khoản: sự chuẩn bị đó thực sự sẽ bị thử thách bất cứ lúc nào.

Cho nên, chúng ta còn lại có câu hỏi tôi đã nêu lên hồi đầu, là: tiếp tục chiến đấu bằng cách hủy bỏ thỏa hiệp bây giờ có tốt hơn là bị bắt buộc phải có phản ứng sau này, một phản ứng được biện minh bằng sự vi phạm một Hiệp định đã được long trọng ký kết hay không.

Tuy nói thế cho lọt tai Nixon, nhưng Kissinger lại dần dần đưa Nixon tới chỗ chấp nhận đề nghị của ông là cứ xúc tiến đi đến thỏa hiệp, và Nixon đã đồng ý, nói rằng ông muốn bất cứ một thỏa hiệp nào hơn là đình hoãn. Ông chỉ thị cho Kissinger cố tìm cho được “đôi chút” tiến bộ trong bản dự thảo tháng Mười.

Theo lệnh Nixon, Kissinger trở lại thương lượng với  Lê Đức Thọ để tới một thỏa hiệp. Nixon đã ấn định thời hạn chót là Ngày Nhậm Chức, 20 tháng Giêng, 1973, để ký kết với Hà Nội, Nixon muốn đi vào nhiệm kỳ thứ hai của mình trong ánh hào quang của hòa bình.

Sau vài phiên họp với Lê Đức Thọ, Kissinger đã đề nghị hai lựa chọn cho Nixon. Lựa chọn một: HK sẽ đồng ý đi tới một thỏa hiệp ngay tức thì với những điều kiện tốt nhất có thể thương lượng được. Lựa chọn hai: HK sẽ bỏ Thiệu nhưng vẫn oanh tạc BV cho tới khi nào Hà Nội đồng ý trả lại tù binh Mỹ đổi lấy sự rút quân hoàn toàn của Mỹ.

Mới đầu, Nixon tán thành lựa chọn Một, nhưng rồi ông nghĩ lại, và gửi công điện báo ngay cho Kissinger là ông có thể gián đoạn cuộc hòa đàm, lấy cớ là cho các phe thương nghị thời giờ tham khảo chính phủ mỗi bên.

Trong mười ngày họp tối quan trọng này, vấn đề khó khăn nhất là tình trạng của vùng Phi Quân Sự phân cách Bắc-Nam. Thiệu nhất định đòi vùng Phi Quân Sự phải được thừa nhận là khu vực chia đôi Bắc-Nam, như thế để miền Nam ít nhất cũng có được một ranh giới và như vậy mới chính thức hóa sự phân biệt giữa hai miền.

Đối với BV, không công nhận vùng Phi Quân Sự làm ranh giới hai bên cũng là một điều hết sức quan trọng. Vì họ vẫn chủ trương là chỉ có một nước Việt Nam và như thế quân đội của họ muốn đóng ở đâu thì đóng, không có vấn đề rút quân ra khỏi miền Nam.

Thiệu sợ rằng nếu BV không chịu thừa nhận tính bất khả xâm phạm của vùng Phi Quân Sự, họ sẽ chuyển quân vào miền Nam để tiếp tay với những lực lượng đã có sẵn ở đó và mở một cuộc tấn công đại quy mô chinh phục miền Nam. Lo ngại của ông đúng vì Lê Đức Thọ nhất định không chịu công nhận vùng Phi Quân Sự và đòi quyền di chuyển dân và quân đội qua ngả đó.

Ngày 14 tháng Chạp, Lê Đức Thọ nói là phải trở về Hà Nội để tham khảo và lấy chỉ thị của Bộ Chính trị về vấn đề này. Ngày 15/12, Kissinger bay trở về Washington, trong lòng rầu rĩ.

Về đến nơi, Kissinger vào gặp Nixon và Haig tại văn phòng riêng của Tổng thống. Cả hai người này đang lưỡng lự và ưu tư về việc ký kết thỏa ước trước những lời phản đối của Thiệu cũng như sự ngoan cố của BV.

… Ngày 20 tháng Giêng (1973) Nixon gửi tối hậu thư cho Thiệu bắt trả lời trước 12 giờ trưa ngày 21, giờ Washington. Trong thư, Nixon nói sẽ gặp các nhà lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ vào tối ngày 21 tháng Giêng để trình bày đường lối hành động.

Nếu ông Thiệu không trả lời vào đúng giờ ấn định, Nixon sẽ ra lệnh cho Kissinger đơn phương phê chuẩn bản thỏa hiệp, trong trường hợp đó, dù ông Thiệu có theo sau, vấn đề viện trợ cũng sẽ bị giảm bớt nhiều. Cuối cùng, ông Thiệu chịu nhượng bộ…

Trong bầu trời xám ngắt lạnh lẽo và mưa sụt sùi của buổi chiều ngày thứ Ba tháng Giêng (1973), hồi 12 giờ 45, Kissinger và Lê Đức Thọ phê chuẩn Hiệp định Paris tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, khách sạn Majestique Đại lộ Kleber. Kissinger ký bằng hai chữ HK nối liền và Lê Đức Thọ vỏn vẹn “Thọ”!

Ngày ký kết chính thức bản Hiệp định, 27 tháng Giêng, là lúc cả hai bên tranh thế lợi điểm khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

---------------------

-Hết-

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá