Hữu Loan và những người đàn bà thứ hai - kỳ 2

TP - Từ đấy ông đi đâu bà đi đấy. Ông đi một bước bà đi một bước, ông đi hai bước bà đi hai bước, nhất định một tấc không đi, một li không rời. Cũng đã được đến hai tháng.

>> Kỳ I: Yêu ai cũng có thơ tặng

Khắc khoải bóng hình người con riêng

Một hôm ông bảo: - Bà ở đây chơi vài hôm nữa rồi về nhớ. Bà dứt khoát: - Không, ông đi đâu tôi đi đấy. Bao giờ ông về tôi mới về! Ông thua rồi!

Vợ nhà thơ Hữu Loan

Nếu bảo ghen thì… ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Mười mặt con rồi và vào tuổi ông bà lúc ấy chắc không phải vì gì… mà bà không muốn chồng chia sẻ tình cảm với bất kỳ người phụ nữ nào khác. Vì bà muốn độc chiếm tất cả cung bậc tình cảm của tình yêu ông dành cho mình.

Ngày con gái, bà rất đẹp, nhất là đôi mắt nâu kỳ lạ thừa hưởng của ông nội, một công chức người Pháp chính gốc. Soi trong đôi mắt ấy, Hữu Loan thấy cả Chân trời quê cũ/ Giếng ngọt cây đa/ Anh khát tình quê ta/ Trong mắt em/ thăm thẳm/ … mắt em/ thăm thẳm/ đựng/ mầu trời quê. Và mái tóc dài/ vương hoa lúa… và giọng em nói, tiếng em ca giữa dòng xanh/ bát ngát. Và câu kết như một lời thề: Tình đôi ta ơi/ từ nay/ rồi/ càng sâu/ ta đi/ đầu sát bên đầu.

Ông bà đầu sát bên đầu đến khi ngọn đèn dầu ông cháy đến giọt cuối cùng chứ nào có bệnh hiểm nghèo gì, gia đình và các bác sĩ tận tình cứu chữa như điếu văn (không đọc) của chính quyền xã.

Bà kể, ông muốn bà triệu tập các con về cho ông dạy. Dạy gì ư? “Dạy phải đoàn kết thương yêu nhau, làm ăn, không phải lo gì cho ông cả. Có trời lo cho rồi. Để ông ở gần bố mẹ ông. Ông ấy có vẻ vui vẻ. Khi nào con cái trở mình cho mới kêu đau thôi”.

Chỉ anh con rể Mai Văn Lễ trở mình là ông không đánh chửi. Không phải vì ông coi rể là khách, mà vì anh Lễ có sức khỏe, lại biết cách nhẹ nhàng, khéo léo lựa chiều nên ông đỡ đau hơn thôi. Tay ông ấy là tay quai búa đánh đá nên đánh đau ra phết đấy.

– Bà bảo ông vui? Tôi hồ nghi hỏi lại. – Vui chứ sao. Ông ấy hát mà. Hát á? Ngạc nhiên, tôi hỏi. Hát chứ sao! – Hát bài gì ạ? Bà cất tiếng hát, nghĩa là bà thuộc, bà đã từng hát với ông, vì trước khi lấy ông, không biết bà hát có hay không, nhưng chắc chắn là người hay hát: Em ca giữa đồng xanh kia mà! Chứ nếu không thì không thể thuộc lời được.

Rất may là tôi cũng thuộc những bài ấy nên hát được theo bà: … Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang mối thù thiên thu. Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, tiến lên đây người Việt Nam. Kèn vang theo tiếng chân đang dập dồn xa xa. Oán thù, chiến khu, từng người lớp lớp rơi, từng giọt máu sáng ngời, một đoàn chiến sĩ oai hùng đi… Và: Lệnh vua hành quân trống kêu dồn/ Quan với quân lên đường/ Hàng cờ bay trống dồn/ Vừa dẻo theo lối thôn/ Phấp phới ngậm ngùi bay/ Ai ra đi mà không ước hẹn ngày về/ Ai quên ghi vào gan đã bao lời thề/ Người đi ngoài ở cõi thiên san/ Người đứng chờ trong bóng cô đơn.

“Rồi ông ấy còn ngâm Kiều nữa kia”. Hỏi ngâm đoạn nào, câu nào thì bà không nhớ. Ông ấy nằm trong buồng, tôi nằm ngoài này nên không nghe rõ. Câu được câu chăng thôi. Ông cũng hay ngâm bài thơ mình dịch: Tương tiến tửu chúc rượu của Lý Bạch.

Mỗi ngày phải giở mình cho ông ba lượt. Chiều 18-3, lẽ ra 3 giờ chiều giở mình lượt thứ hai, tám, chín giờ tối lần thứ ba rồi ông ngủ. Vì bận gì đó không giở mình cho ông lần thứ hai nên anh Lễ đến sớm, như mọi khi anh cũng hỏi chuyện mẹ vài câu xong mới vào với bố. Lúc vào, sờ tay chân ông thì đã thấy lạnh. Sờ ngực thấy vẫn còn nóng. Lúc ấy là 18 giờ 45 (chứ không phải 19 giờ như đã đưa tin. Vì lúc đó, người nhà ông thấy những người báo lô đề đang í ới… Một lúc lâu sau mới hết í ới. Hết í ới là 19 giờ, giờ đài công bố xổ số. Gia đình nhờ tác giả cải chính như vậy).

Ông đi nhẹ nhõm, thanh thản, mãn nguyện, không hề vướng bận gì. Ông và Màu tím hoa sim đã cùng về cõi vĩnh hằng. Nhưng bà Nhu kể, lạ cái, tôi thấy như ông ấy vẫn ở bên tôi, đêm đêm vẫn hát, vẫn ngâm Kiều. Lạ cái, tôi không buồn rầu, ủ rũ, không mộng mị, mê sảng. Bây giờ tôi vào ngủ cái giường ông ấy vẫn ngủ. Nhường gian ngoài, chỗ đặt giường to tôi vẫn nằm lấy chỗ đặt bàn thờ ông ấy.

Tôi bước vào gian buồng nhỏ ông vẫn nằm. Vẫn cái giường, không phải giường đôi, cũng không phải giường cá nhân ấy, bây giờ là bề bộn chăn áo của bà. Lần trước, vì quá xúc động khi gặp ông nên vừa trông thấy ông tôi đã sà vào, ngồi bên ông, lặng lẽ ngắm ông, nghe ông trò chuyện, đọc thơ, không hỏi ông nửa câu. Rồi, không khóc mà nước mắt cứ tràn mi, không sao giữ được.

Cũng vì thế, tôi không để ý đến chiếc bàn thờ nhỏ treo trên góc phòng. Giờ mới biết đấy là bàn thờ riêng thờ bà Lê Đỗ Thị Ninh. Hỏi bà có thắp hương cho bà Ninh không? – Có chứ, có lần tôi còn gặp bà ấy. Các con bà ngồi quanh bảo: “Ý mẹ cháu nói là gặp lúc nằm mê đấy”.

Trong mấy tháng bà theo ông đi nhiều nơi, khi thì nói chuyện, giao lưu với những người yêu thơ ông ở một câu lạc bộ, khi trả lời một cuộc phỏng vấn. Khi là một buổi gặp mặt thân mật với các bạn thơ.

Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn bên mộ nhà thơ Hữu Loan

Có lần, ai đó đọc một vế đối để thử tài ông: Chỉ cu anh, em hỏi Củ Chi? Người Việt Nam, nhất là người làm thơ, viết văn đều biết một trong những cách làm nên nghệ thuật ngôn từ này là nói lái. Nhiều khi khá tục. Nhưng ai cũng thích, bởi nó là một trò chơi ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ.

Hữu Loan chợt nhớ về Nga Sơn quê mình có mấy thắng cảnh: Núi Mai An Tiêm nổi tiếng với sự tích quả dưa hấu. Đến giờ vẫn có dòng họ Mai đông đúc. Có cửa Thần Phù, hồ Đồng Vục, động Từ Thức và hang Trống. À đây rồi. Ông dọn giọng: Đố tục thì giải cũng phải tục mới tương xứng nhé. Nga Sơn quê tôi có hang Trống. Thế nên vế đối lại của tôi là: Trông háng cháu, bác rằng hang Trống.

Nhắc đến chuyện Từ Thức gặp Tiên giầu tính trữ tình, nhân văn, một người đã đặt hàng nhà thơ tài hoa viết một vở kịch thơ. Ông đã bắt đầu khởi thảo. Những dòng thơ đầu tiên hứa hẹn một tác phẩm hay: Nàng đã đi rồi, ta đứng đây/ Áo lam sương xuống lạnh vai gầy/ Cẩm bào gửi lại tình muôn thuở/ Hoa gãy người đi mộng tháng ngày/ Gặp gỡ đà không hò hẹn trước/ Trùng phùng đâu chắc chuyện sau này/ Hoa ơi có biết quê người đẹp/ Người đẹp về đâu hỡi gió mây...

Dù được gần gũi chồng, được đi đó đi đây trong sự chào đón trọng vọng, nhưng người phụ nữ nông dân vẫn không làm sao thích nghi được lối sống, quan hệ sống nơi đô thị hầu như chẳng ai biết ai. Và ồn ào. Và tù túng. Và nhớ bọn trẻ vô kể. Nhớ làng Vân Hoàn vô kể. Về thôi ông ơi. Không thể ở thêm ngày nào nữa. Hữu Loan đang hào hứng với kịch thơ Từ Thức. Vậy mà ông đành chiều vợ, bỏ dở công việc, cùng người vợ tao khang trở về. “Tại bà Thiến Thư đấy nhé, không thì tôi sẽ xong Cái Từ Thức cho mà xem! Về thì về!”.

*

*     *

Hình như các nhà thơ thích nhắc đến các buổi chiều hơn buổi sáng. Thơ Hữu Loan cũng nhiều lắm những buổi chiều: Chiều quê, Một chiều rừng mưa… Chiều hành quân/ Qua những đồi hoa sim/ Những đồi hoa sim…/ Những đồi hoa sim dài/ trong chiều/ không biết. Ám ảnh lòng người nhất là câu: Màu tím hoa sim/ tím/ chiều hoang biền biệt...

Tôi cũng về với ông một buổi chiều. Tháng sau sim mới ra hoa. Chỉ có hoa mua, cũng được ông nhắc đến trong Những làng đi qua. Hoa mua cùng một màu phớt tím như hoa sim. Tôi hái một bó đặt lên mộ ông. Ông nằm đấy, lưng tựa vào một trong năm ngọn của núi Vân Hoàn. Mặt hướng ra phía trước, thoáng đãng. Phía dưới, nơi song thân ông yên nghỉ bao la là nước. Chếch phía Đông là sông Mã hùng vĩ. Những tảng đá xanh Vân Hoàn vây quanh mộ ông...

Im ắng đến lạ lùng. Cảm giác như nắm bắt được, ngửi được, nghe được, nhìn được cái buổi tím chiều hoang biền biệt của ông, bảng lảng xung quanh đang nhập vào tôi, đưa tôi về với ông, sáu mươi hai năm trước.

Trồng cho bố cháu một bụi sim bên mộ được không? Đán bảo, cháu trồng rồi kia kìa, nhưng thiếu nước tưới nên chết rồi. Tôi bày cho anh, lấy một bình nước năm lít, đút nút làm sao để khi dốc ngược, nó chỉ nhỏ từng giọt thôi. Châm một lỗ kim nhỏ cho không khí vào để nó sẽ thấm từng giọt vào gốc cây. Còn một gốc, anh trồng trong vườn nhà thì đang hồi phục.

Bà Nhu vẫn ngồi trên võng ngoài vườn, ngay trước gốc sim và gốc mẫu đơn trắng mới trồng sau ngày ông đi, tay cầm một sợi dây buộc vào một gốc cây để kéo võng. Tôi lựa lời hỏi xem, ông đi thanh thản thế, bà có bận tâm không? - Cũng có đấy. Ông ấy có một đứa con riêng nhưng không kịp về gặp bố đã đành (21 giờ đồng hồ từ lúc mất đến lúc hạ huyệt – TG), nhưng đến nay vẫn chưa thấy về thì không hiểu ra sao. Tôi hơi chạnh lòng cho ông nhà tôi.

Năm ấy, có một người con gái tìm đến nhà xưng tên là Mai, nói rằng mình là con riêng ông nhà tôi. Ông nhà tôi cũng nhận cô ta là con. Chuyện đã rồi. Chuyện là chuyện người lớn, trẻ con có tội tình gì. Tôi đành cắn răng nhận và cũng cho cô ta hai mươi triệu.

– Chắc là hai chục đồng thôi, vì lương cháu lúc ấy chỉ được 55 đồng - Tôi nói. Anh Cương, con trai cả thì bảo, có khi chỉ hai đồng thôi, chắc mẹ tôi nhớ nhầm - rồi tiếp – Hồi ấy nhà nghèo lắm. Tôi thi học sinh giỏi toán huyện mà chỉ được thưởng một chiếc bút máy Hồng Hà. Có chiếc bút máy Trường Sơn đã là sang lắm rồi. Thì mọi người vẫn còn viết bút chấm mực kia mà. Bố tôi bắt tôi đưa cho chị Mai cái bút ấy. Lúc ấy, Đán đang còn là thằng bé tồng ngồng trên chiếc chiếu cói sờn mép. Sau này Mai còn trở lại thăm bố một lần nữa.

Đầu đuôi câu chuyện thế này. Hồi ấy Hữu Loan chưa lấy bà Nhu. Nhưng bà Trâm (mẹ Mai) đang công tác phụ nữ bên Nga Bạch, cùng huyện, cứ nài nỉ xin ông một đứa con, vì chồng bà đi công tác xa mãi không về. Nói mãi, nói mãi làm Hữu Loan cũng mủi lòng, nhưng giao hẹn, chỉ thế thôi, không thành vợ chồng được, vì lúc ấy ông đã phải lòng bà Nhu rồi.

Chuyện xảy ra hồi tháng 9. Đến tháng 11 Hữu Loan mới cưới bà Nhu nên Mai hơn Cương 6 tháng tuổi. Nhưng được con rồi, bà Trâm lại dấn thêm, đòi lấy ông. Hai người đã có một cuộc nói chuyện kịch liệt đến nỗi từ đó bà Trâm không còn tơ tưởng gì nữa, vì biết rằng toàn bộ tình cảm, Hữu Loan đã dành cho bà Nhu rồi. Đán nói đã có lần bố anh kể với anh như thế.

Sau đó bà Trâm lấy một người chồng là cán bộ miền Nam tập kết tên là Vân, quê Bình Định. Rồi người chồng đầu tiên trở về. Bà Trâm có ra Hà Nội xin lỗi chồng cũ, vì hoàn cảnh không biết thế nào mà chờ được. Rồi ông chồng cũ này cũng lấy một bà người Hà Nội.

Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà Trâm về miền Nam cùng chồng. Năm 1992, Hữu Loan vào Sài Gòn, có tìm gặp con. Khi ông ấy đi, cả nhà tôi đều nhắc đến cô ấy, thế mà đến giờ vẫn không thấy ra chịu tang bố. Bà Nhu nói vậy.

Cuộc sống tình cảm của người nghệ sĩ không bao giờ là đơn giản. Đơn giản thì không thể làm một nghệ sĩ rồi. Chuyện tình của Hữu Loan là như vậy, nhưng rất rạch ròi, sòng phẳng, không có chuyện một mũi tên lại xuyên nhiều đích. Nửa của ông là một người phụ nữ bình thường, nhưng bao dung cao thượng. Không bao giờ ghen với quá khứ của chồng. Hiện tại thì có ghen đấy, nhưng không phải là cái thứ ngứa ghẻ hờn ghen, nên không làm khổ chồng vì những chuyện không đâu. Ông bà là hai nửa đích thực của nhau, viên mãn đến tận cuối đời.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá