Nhọc nhằn dưới đáy sông Thương

TP - Dưới dòng nước yên bình của mỗi dòng sông luôn chứa những điều huyền bí, nhưng những người chuyên sống dưới đáy sông Thương không phải là những người thích đi tìm sự huyền bí mà chỉ đơn thuần muốn kiếm cái ăn, cái mặc cho gia đình. Đôi khi, để có được những thứ ấy, họ phải trả giá bằng cả mạng sống của mình…

Bộ đồ nghề ngốc vầu
Bộ đồ nghề ngốc vầu

Bộ đồ nghề ngốc vầu
Bộ đồ nghề ngốc vầu.

Làm bạn cùng 'Hà Bá'

Lão ngư Nguyễn Văn Đẩy, 59 tuổi nhưng da vẫn đỏ au, săn chắc buộc đồ nghề vào chiếc xe đạp đã cũ rồi lên đường. Nói là đồ nghề cho oai chứ chỉ bao gồm một chiếc rổ cỡ lớn và một chiếc phao bằng mấy tấm xốp tự chế được nối với nhau bằng sợi dây thừng màu xanh. Giữa trưa hè nắng như đổ lửa trên đường nhưng mặt sông mát lạnh. Vứt quần áo trên bờ, chỉ vận mỗi chiếc quần đùi, lão lao ra giữa dòng. Tôi bấm đồng hồ. Gần một phút sau mới thấy lão trồi lên.

Ôm lấy chiếc phao, lão lấy hơi một chút rồi lại ngã người, chìm nghỉm… Sáu, bảy lần như thế, khoảng cách giữa bờ đê và lão cứ xa dần. Hơn chục phút sau lão thả dây rồi bơi vào bờ. Kéo chiếc rổ từ dưới lòng sông lên, tiếng lão đứt quãng: “Chỗ này ít quá, chỉ được vài con thôi. Tìm chỗ nước xoáy chắc sẽ nhiều hơn”. Trong chiếc rổ của lão vừa kéo lên, tôi nhận thấy vài con trai to bằng bàn tay nằm lăn lóc cạnh bùn đất. Hỏi chuyện về thời trai trẻ của lão, tôi thấy sự tự hào ngời lên đôi mắt hằn vết chân chim.

Lão kể: 13 tuổi lão bắt đầu học cái nghề này, nghề ngốc (lặn) vầu (một loài sống dưới đáy sông, có lớp vỏ dầy hơn trai - PV). Thời thanh niên, lão có thể lặn một hơi đến gần 2 phút với độ sâu khoảng 20-25 mét để bắt vầu. Vào khoảng những năm 86-87 của thế kỷ trước, giá vầu cao lắm. Tính ra, mỗi ngày đi ngốc vầu lão vác được cả tấn thóc về nhà. Cả làng đua nhau đi ngốc vầu, có những thời điểm làng có đến 30-40 người cùng đi, toàn là thanh niên, trai tráng.

Hằng ngày, nhà lão nhộn nhịp vì hàng chục người đến cân vầu, đặt hàng. Rồi thương lái chuyển sang mua trai, lão lại cùng anh em lặn lội các sông trong và ngoài tỉnh mò trai. Giá cũng tương đương vầu, thậm chí có lúc còn cao hơn.

Như một quy luật tất yếu, nghề ngốc vầu, trai đã mang lại sự đổi đời cho cả làng Đông Thắng. Đến tận bây giờ, Đông Thắng vẫn được coi là một làng trù phú nhất nhì của xã Tiến Dũng (Yên Dũng, Bắc Giang). Còn lão Đẩy, giờ đây thỉnh thoảng lão đi ngốc vầu cho vui và đỡ nhớ sông, nhớ nước, nhớ cái cảm giác lành lạnh, tê tê dưới sức ép hàng chục mét nước. Trong ba người con trai mà lão sinh ra, hai người vẫn đang tiếp nối nghiệp của bố.

Vỏ trai được thu mua với giá cao
Vỏ trai được thu mua với giá cao.

'Thủy cung' ở đáy sông

Không chỉ ngốc vầu, trai kiếm sống, đáy sông đã thực sự là một thế giới hằng ngày của những người cá đất Tiến Dũng. Trong đó, có những niềm vui, nỗi buồn, có bất ngờ và cả những tang thương - như dòng chảy cuộc đời vậy. Không mấy ai được tường tận nơi đáy sông như họ và vì thế họ yêu (và nhiều lúc phải yêu) dòng sông quê.

Gắn bó với nghề lặn từ năm 26 tuổi, đến nay hơn 50 tuổi, ông Đỗ Văn Đồng (thôn Đông Thắng) đã tự sắm cho mình một con thuyền để rồi suốt ngày lênh đênh với sông nước, dù rằng nhà ông cách đó chẳng bao xa. Khúc sông Thương, đoạn qua xã Tiến Dũng, ông đã có thể thuộc lòng những gì đang tồn tại dưới lòng sông, cách mặt nước hàng chục mét.

"Giờ đây thỉnh thoảng lão đi ngốc vầu cho vui và đỡ nhớ sông, nhớ bến, nhớ cái cảm giác lành lạnh, tê tê dưới sức ép hàng chục mét nước. Trong ba người con trai mà lão sinh ra, hai người vẫn đang tiếp nối nghiệp của bố."

Không có bất kỳ một phương tiện hỗ trợ nào, cứ xuống đến đáy là những người thợ lặn lại lần mò, quờ quạng trong bóng tối nên họ mang lên bờ tất cả những gì có thể. Hóa ra, ngoài các loài thủy sinh, dưới đáy sông còn có bao nhiêu cổ vật ghi lại dấu ấn của bao thăng trầm cuộc sống. Như ông Ngô Văn Khi (thôn Đông Thắng) trước đây cũng đã mò được cả một chiếc… tàu thời Pháp. Kéo lên bờ, gỗ đóng tàu ông dùng làm gần được ngôi nhà mới.

Chỉ cho tôi xem những tấm ván đã thâm đen nhưng vẫn lộ rõ những đường vân óng ả đang để ở mũi thuyền, ông Đồng kể: “Đây cũng là những tấm ván của một con tàu cổ đang nằm dưới lòng sông Thương, đều là loại gỗ sến, táu rất chắc chắn nhưng bây giờ kéo lên được là cả một vấn đề. Dưới sông này, tôi biết còn hai con thuyền nữa như vậy”. Rồi cũng có lúc bất ngờ, những người ngốc vầu tìm được cả những chiếc đồng hồ, dây chuyền, điện thoại… đã nằm yên chẳng biết tự bao giờ dưới dòng nước xanh.

Ở nhà ông Đẩy bây giờ vẫn còn một đoạn ống dẫn dầu hàng chục mét ông để dùng chứ chẳng chịu bán. Nhiều người mò được cả những chiếc bánh lái, mỏ neo bán được hàng triệu đồng. Trước đây, cũng có người đến bảo tôi đi lặn lấy giúp một số than “đánh quả” được nhưng tôi từ chối. Sông cho gì mình lấy đấy, sống như thế thoải mái hơn nhiều” - Ông trầm ngâm.

- Làm nghề này ngại nhất điều gì? Tôi hỏi.

- Ngại nhất là đi tìm và vớt người chết. Tìm được đã khổ, mất đến hàng tiếng trời lặn ngụp, kể cả những lúc rét mướt nhất.

Dưới đáy sông tối tăm, cô đơn và lạnh lẽo, những người thợ lặn chân quê phải tự mình xử lý những tình huống dù là xấu nhất. Xước chân tay, chảy máu chỉ là chuyện thường ngày bởi va vào đá hay cào vào mảnh thủy tinh vỡ dưới đáy sông. Nhưng khó khăn hơn là họ luôn gặp những nguy hiểm cận kề…

Ông Đẩy giữa dòng sông chuẩn bị lặn
Ông Đẩy giữa dòng sông chuẩn bị lặn.

Ông Đồng vẫn còn bàng hoàng khi nhớ lại kỷ niệm cách đây khoảng một năm. Lúc đó ông đang lặn xuống độ sâu hơn chục mét thì một tấm lưới đánh cá bất ngờ ôm trọn người ông. Cả một đồng bùng nhùng cứ theo dòng nước chảy mà thít dần tay, chân, đầu cổ. Không một tấc sắt trong tay, ông nghĩ rằng có lẽ mình sẽ chết lần này. Nhưng rồi sự bình tĩnh cùng với bản năng sinh tồn với sự chai lạnh của một người từng trải, ông cố gắng nhịn hơi, lần tìm từng khe hở để thoát ra. Đến khi trồi lên được mặt nước, ông kiệt sức…

Bản lĩnh cũng là điều vô cùng quan trọng với những rái cá như ông Đồng, ông Đẩy. Và, họ cũng tự dặn phải biết lặn sao cho vừa sức của mình. Nếu quá sức, nhẹ thì máu mồm máu mũi chảy ra, nặng thì dẫn đến tử vong. Bởi dưới nước sâu hàng chục mét thường có áp suất cao và nhiệt độ thấp, nên phải vận khí sao cho thân thể thích nghi được thì sẽ hạn chế rủi ro.

“Nhưng tất cả cũng chỉ là lý thuyết, bằng chứng là vẫn có vài người chết trong những năm gần đây” - Ông Đồng kết luận. Nhiều cái chết rất thương tâm như cái chết của anh D. (thôn Đông Thắng), ông T. (thôn Thuận Lý) do uống rượu say dẫn đến cảm lạnh khi đang lặn. Bản thân ông Đồng có hai người cháu họ do cố hơi lên không kịp mà mãi mãi ở lại cùng dòng sông…

Đôi mắt ông Đồng nhìn xa xăm. Bên kia dòng sông Thương thơ mộng, khói lam chiều nhà ai tỏa sớm…

 

Bà Nguyễn Thị Định, Phó thôn Đông Thắng cho biết, hiện toàn thôn có khoảng 10 người thường xuyên đi ngốc vầu, trai. Cả xã có khoảng gần 20 người. Năm nay mặc dù giá vỏ trai không cao nhưng cũng có giá khoảng 4.000 đồng/kg. Thịt trai thương phẩm bán tại chỗ được khoảng 7.000 đồng/kg. Tính ra, mỗi người làm nghề ngốc vầu, trai thu nhập khoảng 300-400 nghìn đồng/ngày. Vỏ trai thường được bán cho các làng nghề ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam… để chạm khảm gỗ, vỏ vầu được dùng làm cúc áo.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng