Nỗi niềm vùng cao biên ải

TP - Không lễ đâm trâu, không nhảy hát mừng lúa mới, nhà mới, không còn cồng chiêng, khèn đàn, cũng không còn mấy người biết chơi những nhạc cụ độc đáo truyền đời. Nhà sàn truyền thống đang được thay dần bằng nhà gạch mái tôn.

Lễ hội đâm trâu hiếm hoi thế này ở miền núi Quảng Nam chỉ để “biểu diễn” cho ngành du lịch
Đó là nỗi niềm của vùng cao biên ải huyện Nam Giang (Quảng Nam) đầu thế kỷ 21 này. 

Một chút bối rối trong tôi khi quay lại nhà ông Blup Dứ ở làng La  Dêê. Chỗ kia là chiếc cầu, quẹo xuống là gặp nhà ông, nay thoắt khác. Đường lên cửa khẩu quốc tế Đắc Ốc (Nam Giang) cây cầu đã làm từ lâu, không như cái năm tôi lên đồn Biên phòng 657, anh em bảo cách mấy thước mà không qua được, bởi nước sâu, kéo theo vô vàn cực khổ vì bị cầm chân.

Chuyện đã lùi xa, nhưng vẫn hiện trong tôi cái phiền muộn của người biên ải. Đắc Ốc đã khác đi rất nhiều. Bản nhỏ trước đồn 657, ngày trước đó là nơi hút hồn những tay săn ảnh chuyên và cả không chuyên.

Nhà sàn to nhỏ cao thấp lượn theo đường đất phất phơ khói lam chiều, tựa chân vào núi quấn quít mây và sương, khác nào dáng ngồi của đàn bà Tà Riềng sau một buổi lên nương, mệt mỏi ngồi nghỉ ngay bậc cầu thang.

Nay tôi phải hỏi hàng xóm mới nhận ra nhà ông. Một đồng nghiệp đi cùng mơ hồ nuốt tiếc : Hết rồi, biết chụp cái gì. Thì vẫn còn đó nhà sàn. mái tranh được thay thế hầu hết bằng tôn.

Nước lọc thay cho rượu tà vạt độc đáo của đồng bào. “Tôi già rồi, con thì không đứa nào biết làm rượu” – Blup Dứ chậm rãi. Cuộc rượu chiều mưa biên giới quạnh quẽ tong tong theo giọt tranh. Không quen với mùi chua ngọt sóng sánh vàng của rượu tà vạt, bữa đó tôi bị Tào tháo rượt tới bến.

Tôi nhìn lên sàn bếp. Khói đen quyện hơn. U tối những góc nằm. Nhớ lần đó, hình như do rượu vào, lại thêm cánh nhà báo đông đảo cứ  dồn dập hỏi, ông mở lòng lôi ra tuồn tuột chuyện mới cũ.

Im lặng trống chiêng

Tôi nhìn xuống bậc cầu thang cũ, nhìn ông già, lại nhìn con gái ông, vừa học lớp 12 xong, đang loáy nhoáy nhắn tin bằng máy di động, chợt thấy thời gian sao mà khủng khiếp. Ông đã thành người cũ rồi. “Ừ, mình lạc hậu rồi”.

Ông cười như không. “Anh vừa hỏi cái gì? Đâm trâu à ? Không có đâu”. Tầm ra tết cho hết tháng Tư, vùng cao vào mùa đâm trâu mừng lúa mới, xuân mới.

Với tôi, đâm trâu như nét phong vận của người miền núi. Vẫn có trong rất nhiều người chút tâm tưởng rằng đó là việc ác nhưng, với đồng bào vùng cao, chuyện đó chính là tâm linh trong mối quan hệ với trời đất, khi chỗ dựa của họ là rừng sâu, núi cao huyền hoặc.

“Trâu không có lấy gì đâm. Mua về nhiều tiền, lại phá lúa rẫy, đi đứng lung tung, chẳng ai nuôi nữa, hết lâu rồi”, ông nói.

Tại các huyện miền núi của Quảng Nam, nạn chảy máu cồng chiêng diễn ra ồ ạt, chỉ Phước Sơn chưa có tình trạng đó. Các huyện như Nam Trà My, Đông Giang bị nặng nhất, nhiều xã vùng đồng bào thiểu số không còn bộ cồng chiêng nào.

Mới đây, Sở VH-TT&DL Quảng Nam ở hội thảo về cồng chiêng, có ý kiến  đề nghị tỉnh phải có nghị quyết để bảo tồn cồng chiêng.

Miền núi không lễ hội, tất nhiên chẳng ai chết. Nhưng hãy tưởng tượng người Kinh bây giờ không ăn tết, không có cái mệt mỏi nhọc nhằn mà đầy háo hức chờ đêm Ba mươi rồi tảng sáng mồng Một yên ắng không một tiếng gà, đi đứng nói năng bỗng dưng khẽ khàng, rồi sao đó vỡ òa trong cơn say trời đất thanh minh. Không có nó, đời người khác nào một chuyến đi dài mút tắp không hề có trạm nghỉ để xem thử ta đã bỏ lại đằng sau cái gì, rồi chuyện mộng mơ dự định cho ngày mai, ngày mốt.

“Xung quanh đây cũng không có đâm trâu đâu. Mãi dưới Chàval mới có” – Blúp Dứ lại chậm rãi. “Không có đâm trâu, chiêng trống cũng đem cất cho bụi đóng chứ làm chi”. “Làm gì còn chiêng mà đánh”.

Thấy tôi ngẩn người, ông Dứ cười buồn: “Cồng chiêng hồi trước làng có nhiều. Khi còn nuôi trâu thì đem trâu đổi. Giờ thì chịu thôi. Muốn mua thì phải có vài triệu, đi xuống Điện Bàn mua, tiền đâu”.

“Đám cưới, nhà mới, phải chịu im lặng thế à?”, “Gì mà không im. Có mượn cũng chẳng biết mượn đâu. Với lại người ta cử (kiêng) sợ xui, sợ cho mượn là nhà có chuyện buồn. Ăn mừng lúa mới, nhà mới cũng không có làm lễ đâu, tốn lúa gạo lắm, rồi heo gà liên miên dịch bệnh”. Vụ cháy lớn năm 1992, thiêu cả bản, mất sạch hết chiêng, nhạc cụ. Từ đó mất luôn.

Blup Dứ không nhìn tôi mà phóng mắt qua bên kia cầu dẫn lên cửa khẩu. Xe chở đá bên này sang, gỗ từ Lào về ầm ầm. Tiến bộ của đời sống phải bén rễ lên đây để thay đổi số phận họ. Nhưng rác thải của văn minh đã bóp chết những tiếng nói từ cội nguồn, hay được gọi là bản sắc.

Phớt lờ cảnh báo, hoặc cảnh báo chỉ ở trên giấy tờ, câu chuyện giữ gìn bản sắc, lập hàng rào không để thoát đi tinh túy, hồn cốt của làng, không được thực hiện đến nơi đến chốn, để rồi nhận được những câu trả lời ngơ ngác.

“Nếu mình có lễ vật đem cúng, nói mãi thì người ta cũng cho mình mượn chiêng thôi. Nhưng khó lắm”, ông Dứ bảo. Cồng chiêng được xem như vật gửi gắm, ủy thác linh hồn của đồng bào vùng cao với Giàng, thần linh. Không lẽ phải đi mượn hồn?

“Không riêng gì chiêng đâu. Khèn, đàn cũng mất rồi. Người già biết làm thì đã chết. Lớp trẻ thì không biết gì. Bây giờ muốn có nó, phải qua Lào mua thôi”.

Bất chợt, ông Dứ khe khẽ cất lên ngữ điệu khèn của dân tộc ông, bàn tay gõ xuống sàn nhà, mắt sáng lên, như thể đang nhập hồn, đang thoát xác.  

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá