Sơn nữ chinh phục chính khách Hoa Kỳ - Kỳ 2

TP - Lúc khẩn trương, yêu cầu có một máy bay y tế chở người đang ở tình trạng thập tử nhất sinh về Mỹ, để có về với Chúa cũng ở trên mảnh đất quê hương rất khó được đáp ứng.

>> Kỳ 1: Ân nhân gia quyến nhà khoa học danh tiếng bị xe máy đâm ở Hà Nội

Kỳ 2: Cảm tạ sâu sắc

Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị tiếp TS Suzane, vợ GS Papert

Thời gian sống của GS Papert tính từng ngày, từng giờ. Nhiều người lao vào tìm cách trợ giúp...

Tỷ phú Mỹ George Soros, nghe tin cố nhân, truyền thư ký ngỏ ý thu xếp đưa máy bay cá nhân của ông đến Việt Nam. Việc không thành vì máy bay huy động cần phải là máy bay y tế chuyên dụng.

Đến lượt Thượng nghị sỹ Đảng Dân chủ Mỹ, John Kerry. Ông là một trong những cây cao bóng cả trong Thượng viện Mỹ, cựu chiến binh tham chiến ở Việt Nam người tiên phong thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt. J.Kerry cũng là thân hữu của bệnh nhân Papert. Ông ngỏ ý xem xét khả năng huy động máy bay y tế. Ý định cũng không thành. 

Chồng không thu xếp được thì vợ lo thay. Bà Teresa Heinz Kerry - phu nhân của nghị viên John Kerry, sốt sắng gợi ý cho lấy máy bay riêng đi chở bạn.

Với nữ tỷ phú Teresa, bố trí một máy bay cá nhân hạng sang từ Mỹ đi đơn giản như mời nhau một bữa bình dân. Nhưng đấy lại là máy bay thông thường, không có hệ thống chăm sóc y tế chuyên dụng.

Nhờ xa không xong, quay sang cậy gần. Nhưng Công chúa Hoàng gia Thái Lan cũng chỉ làm được việc gọi điện thường xuyên hỏi tình hình giải quyết đến đâu rồi. Các đầu mối bế tắc…

Chọn một địa chỉ trong danh sách bằng hữu, Thảo gửi thư điện tử cho một bạn Thụy Sỹ đang công du ở Malaysia. “Mình cần một chiếc máy bay từ Việt Nam sang Mỹ nhưng phải có hệ thống chăm sóc cấp cứu (intensive care unit equipment)”. “Tưởng gì. Để tớ”.

Một máy bay chuyên dụng của hãng vận chuyển cấp cứu hàng không Thụy Sỹ (Swiss Air Ambulance) đến sân bay Nội Bài trong vòng 24 giờ kể từ lúc cam kết, chuyển bệnh nhân đặc biệt một mạch về nước Mỹ quê nhà.

Để máy bay cấp cứu Thụy Sỹ được phép vào Việt Nam theo chế độ đặc biệt, Thảo liên hệ khắp nơi trong đó có ông Lê Dũng - Vụ phó Vụ Bắc Mỹ, Bộ Ngoại giao, ông Nguyễn Cơ Minh lúc đó là Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế (nay là Thứ trưởng), Bộ Ngoại Giao, và ông Phạm Ngọc Minh – Phó Tổng Giám đốc Việt Nam Airlines.

Cô còn thư và điện thoại với Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Văn Bàng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân, và Thứ trưởng Trần Văn Nhung, v.v… Rồi nhanh chóng thu xếp cuộc gặp gỡ riêng giữa thân quyến Giáo sư Papert với từng yếu nhân trên.

Dàn xếp trong vòng một ngày cho một chuyến đặc biệt ngay hôm sau, 14/12/2006, có lẽ chưa thấy trong lịch sử hàng không Việt Nam thời bình. Nghe nói, Thảo đi đến đâu, các cơ quan chức năng Việt Nam đều yểm trợ tối đa về thủ tục cho phi vụ hi hữu này.

Tiễn GS Papert trong tình trạng nguy cấp hồi hương, ở Nội Bài hôm thứ Bảy 16/12/2006, có mặt Phó Đại sứ Mỹ, Phó Đại Sứ Thụy Sỹ, và Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam.

Tôi nghĩ về bạn rất nhiều

Nghe xong chuyện, một cựu binh Việt Nam  nói, Thảo Griffiths đã thiết kế thêm chiếc cầu hữu nghị với quốc gia gây nên trên quê hương cô cuộc chiến tranh thảm khốc nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.

Trong thư gửi Thảo đề ngày 20/1/2007, TS Suzane viết: “Chị vô cùng biết ơn em về tất cả những gì em đã làm, giúp chị suốt những ngày tệ nhất cuộc đời chị. Không ngày nào trôi qua chị không nhớ đến điều đó… Thảo, những gì chị viết trong thư không thể diễn tả hết lòng biết ơn của chị đối với em. Chị chỉ muốn nói một điều rằng, một mai sức khoẻ hồi phục, nhất định chị sẽ phải làm một điều gì đó”.

Thư của Bob Massie, con trai riêng của TS Suzane Massie, gửi Thảo ngay sau ngày đầu tiên Thảo vào túc trực tại Bệnh viện Việt Pháp: “Thảo thân mến, vợ chồng tôi hết sức cám ơn bạn về tất cả những sự giúp đỡ đầy lương tâm trước tai nạn khủng khiếp. Không có bạn, chúng tôi cảm thấy như bị mù và không thể liên lạc được với ai.

Sự có mặt của bạn ở bệnh viện, thức đêm với Yuri và thông tin cho chúng tôi chi tiết của tình hình là món quà mà chúng tôi không dám mơ. Nghe tin bạn còn thu xếp giúp Artemis và Suzane khi họ sang Việt Nam. Chúng tôi thật chẳng biết nói gì hơn nữa ngoài lòng cảm tạ sâu sắc”.

Bob Massie là người từng theo học ở các đại học Princeton, Yale, đỗ tiến sỹ ở Harvard về quản trị kinh doanh, toàn các trường hàng đầu của Mỹ và thế giới. Bob Massi ở Mỹ là câu chuyện sống về một tấm gương đấu tranh với bệnh tật kiên cường.

Bob mắc bệnh máu không đông từ nhỏ, và sau này bị nhiễm HIV lây qua đường truyền máu. Từ bệnh máu không đông của con mình, cha mẹ ông viết cuốn sách về con trai Sa hoàng cuối cùng của nước Nga cũng bị bệnh tương tự. Cuốn sách đoạt giải Pulitzer được chuyển thể thành phim.

Bob Massie còn là thành viên và cựu giám đốc Liên minh các nền Kinh tế có Trách nhiệm về Môi trường (Coalition for Environmentally Responsible Economies) đầy quyền lực trên thế giới. Cha của Bob Massie, ông Robert Massie, còn là nhà sử học danh tiếng.

Giáo sư Nicholas Negroponte của đại học MIT cũng thư cho Thảo ngày 10/1/2007: “Tôi chưa bao giờ chứng kiến một nghị lực vô bờ bến như vậy. Bạn thật tuyệt vời”.

GS Negroponte đang thực hiện chương trình One Laptop Per Child (Mỗi trẻ em một máy tính xách tay) mà GS Papert sáng lập (founding father). GS Negroponte đến Việt Nam ba ngày sau tai nạn của Papert chỉ để làm mỗi việc cùng giải quyết vấn đề. Ông còn là em trai John Negroponte - khi đó (2006) và là cố vấn an ninh của Tổng thống Bush nay là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ.

Một phụ nữ Mỹ đang làm cho một dự án y tế ở Hà Nội thốt lên, hành động của Thảo giúp chị hiểu hơn nét khuất ở người Việt. “Tôi không thể tưởng tượng cô ấy có thể làm một việc khổng lồ mà lại thành công trong một thời gian ngắn kỷ lục”.

Chứng kiến Thảo và nhân viên ĐSQ Mỹ hỗ trợ gia đình GS Papert, Anne K. Seymour, chuyên gia của Quỹ cựu Chiến binh Mỹ tại Việt Nam VVAF, viết thư gửi Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice.

Thư đề ngày 1/1/2007: “Trong khi vô số nhà lãnh đạo các nước và các chức sắc Mỹ can dự để đảm bảo tính mạng cũng như sự trở về của GS Seymour Papert và đến bệnh viện đa khoa nhân dân ở Boston, tôi có thể nói toàn bộ công việc thực chất được xử lý tại Hà Nội.

Karen McGuire Hughes, quan chức y tế (trong ĐSQ Mỹ ở Việt Nam) cộng tác chặt với Thảo Griffiths thuộc VVAF và (ở mức độ rất nhỏ) cá nhân tôi để xác định và đáp ứng mong muốn của gia đình, để đưa GS Papert trở về Mỹ bằng một máy bay y tế Thụy Sỹ”…

Chuẩn bị leo dốc dựng đứng

Thảo và GS Negroponte, người đang thực hiện chương trình Mỗi trẻ em một máy tính xách tay mà GS Papert là nhà sáng lập
Một tuần trước khi GS Papert gặp nạn, Thảo vẫn ở Mỹ cùng một nhóm Việt kiều trưng bày Góc Việt Nam trong chương trình Vòng quanh Thế giới (Around The World) do chính quyền địa phương ở ngoại ô Washington DC, nơi rất đông cộng đồng Việt Nam, tổ chức.

Về Việt Nam, cùng buổi sáng tiễn GS Papert lên máy bay về Mỹ, Thảo đón đoàn cựu binh Mỹ cũng tại sân bay Nội Bài bắt đầu chuyến thăm chính thức kỷ niệm 25 năm ngày trở lại Việt Nam (tháng 12/1981), mở đường cho quá trình ngoại giao nhân dân của cựu binh Mỹ.

Một tuần sau tai nạn của GS Papert, Thảo tổ chức hàng loạt hoạt động ngoại giao nhân dân của đoàn cựu binh, trong đó có chuyến thăm đầy kỷ niệm với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

...Thảo tiếp tôi tại trụ sở VVAF, một biệt thự kiểu Pháp hai tầng ở phố cũ Đặng Dung (Hà Nội), vào chiều muộn giữa tháng 12/2007. Mọi năm thời điểm này ở Hà Nội lạnh buốt. Nhưng giờ thì khác. Thiên hạ bắt đầu nói nhiều về biến đổi khí hậu và cách hành xử của chính quyền Mỹ về vấn đề này.

Căn phòng vuông bảng lảng tiếng nhạc dân tộc. Ngoại giao nhân dân đến với Thảo một cách tự nhiên. Một cuộc điện thoại mà bên kia đầu dây là Tom Hayden, chồng cũ nữ nghệ sỹ Jane Fonda xông xáo một thời trong phong trào phản chiến.

Thập niên 60 thế kỷ trước, T.Hayden đi đầu các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Ông nằm trong số ít người Mỹ có mặt ở miền Bắc Việt Nam nhiều lần với tư cách khách mời trước khi kết thúc chiến tranh.

Ông chưa trở lại Việt Nam kể từ năm 1975 cho đến sáng thứ Hai 17/12/2007. Tối hôm sau, Thảo mời tôi đến dùng bữa với gia đình và Tom Hayden. “Ông ấy muốn viết bài về Việt Nam mới cho  vài tờ báo hàng đầu ở Mỹ”, Thảo nói.

Nhận học bổng Fulbright, Thảo sang Mỹ theo chương trình cho cán bộ đi học, tức là chỉ học tối. Vào website của Fulbright, thấy bảng điểm của Thảo chẳng kém ai. Trong số các bạn mới mà Thảo làm quen và thân thiết có Tim Rierse, người của đảng Dân chủ. Phe Dân chủ thắng thế trong cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ tháng 11/2006. Tim trở thành nhân vật quyền lực với chức Tổng thư ký Tiểu ban Phân bổ Ngân sách, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện.

Thảo không ngờ vị trí quyền năng ấy giúp cô làm một việc vượt quá sức tưởng tượng của nhiều người ở nhà. Tim là chỗ dựa cho Thảo để khởi động viện trợ đầu tiên của Chính phủ Mỹ cho nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam.

Ai am tường hệ thống chính trị Mỹ mới hiểu một nguyên tắc. Đó là, để có thể có một chính sách hay quyết định của nước Mỹ đối với quốc gia của mình, nhiều khi không thể tác động theo đường chính thức. Vận động hành lang hay, nói cụ thể, quan hệ cá nhân đóng vai trò gần như quyết định ở những thời điểm chín muồi.

Việc làm âm thầm của Thảo Griffiths là ví dụ không thể bác bỏ về hiệu quả của vận động hành lang cho một quyết định mang tính lương tri mà lẽ ra chính quyền Hoa Kỳ phải tự giác làm từ lâu.

Trong hệ thống chính trị Mỹ, có thể sẽ chẳng đi đến đâu dù điều kiện cần cho một quyết định pháp lý và đạo lý nhiều khi đã có và thậm chí tiềm tàng. (Từ lâu, không ít chính khách Mỹ ủng hộ giải quyết các vấn đề mang tính trách nhiệm của chính quyền Mỹ đối với hậu quả chiến tranh Việt Nam). Nếu không có cú hích cụ thể, không có tác động cụ thể thông qua quan hệ cụ thể, nếu không có điều kiện đủ, điều kiện cần có lẽ mãi trên giấy.

--------------------

Còn nữa

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá