Những chuyện chưa kể về nhà lao thiếu nhi có một không hai - Kỳ III:

Tình yêu sau song sắt

TP- Đói rét, xiềng xích, đòn roi và những bức tường cao phủ đầy dây thép gai của nhà lao Đà Lạt vẫn không ngăn được tình yêu giữa những người tù đang độ tuổi xuân thì.

Kỳ II: Diệt ác ôn và nổi dậy

Chuyện tình yêu, tình đồng chí phía sau song sắt đã từng làm cảm động cả viên giám thị nhà lao…

Tình yêu giữa những người tù được “liên lạc” qua những cửa sổ nhà lao

Yêu nhau qua tiếng nói

Chị em hai phòng G và H nghe tiếng kẻng thông báo giờ ăn là trật tự đi về phía nhà hỏa thực. Đoạn đường tuy ngắn nhưng chị em luôn “chuẩn bị” chu đáo.

Chốn lao tù ngay cả gương lược cũng chẳng có, nói gì đến phấn son, nhưng chị em vẫn luôn dành thời gian để làm đẹp từ mái tóc, quần áo đến đi vì phải đi qua trước hơn trăm cặp mắt đổ dồn của anh em ở bốn phòng A, B, C, D.

Con gái ở cái tuổi mười lăm, mười bảy hợp với khí trời Đà Lạt, dù có kham khổ đến mấy đi nữa nhiều chị em vẫn toát lên vẻ đẹp đầy sức sống của cái thì xuân sắc: da trắng hồng, mắt long lanh, mái tóc vẫn đen mượt, khó mà “hững hờ”…

Nhà lao với hơn sáu trăm người tù cả trai lẫn gái đang độ tuổi lớn và tuổi yêu, chẳng biết bao nhiêu anh để ý tìm được bóng hồng riêng cho mình và cũng không biết có bao nhiêu chị bị “trúng tên” của thần tình ái?

Con số đó có trời mới biết chăng!? Chỉ biết khi ra tù, những tình yêu bí mật sau song sắt mới chịu lộ diện. Anh Phong - chị Nhân, anh Hòa, chị Yến, anh Phấn chị Kim, anh Mười chị Kim… đã có những mối tình đẹp trong khung cảnh tù ngục tối tăm.

Hồi ở phòng B, sau khi từ xà lim lên, cả hai chân anh Phong đều bại liệt, phải đi lại bằng hai tay. Vậy mà Phong là người có mặt sớm nhất trong “hàng rào danh dự” trước cửa phòng B khi “phái đoàn” chị em diễu qua bậc tam cấp.

Luôn có một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cứ khi nào dưới này chị Nhân bị ốm phải ra trạm xá hoặc nhập viện thì trên đó anh Phong cũng “trái gió trở trời”… Họ cùng đến  một điểm hẹn khá lý tưởng: Trạm xá. Họ gặp nhau trò chuyện, chăm sóc đỡ đần. Nhân là đôi chân cho Phong và  Phong trở thành chỗ  dựa về tinh thần cho người yêu.

Một phút gặp nhau ở nhà tù Đà Lạt thật hiếm hoi. Phong và Nhân cũng như nhiều đôi khác, đã yêu nhau qua tiếng nói, rồi hình dung ra người. Càng như thế, niềm ao ước mong đợi càng lớn. Những tình yêu qua tiếng nói ấy đã diễn ra trong nhiều năm tháng, đã đi qua những nhà lao như Hội An, Kho Đạn, Côn Đảo, Chí Hòa, rồi Tân Hiệp và cuối cùng là Đà Lạt.

Về Đà Lạt họ như cá gặp nước, ong gặp hoa, mỗi ngày bốn bận họ nhìn thấy nhau trong cảnh “anh ở trong song sắt; em ở ngoài song sắt”…Bóng hình qua rồi đọng lại, rồi nhớ, rồi thương…

30 năm sau, chuyện tình yêu vẫn được kể lại trong cuộc hội ngộ giữa những người tù thiếu niên ngày ấy
Đường đi của những bức thư tình

Nhưng tình yêu dù ở nhà lao vẫn luôn tìm được đường để đến với nhau. Những bức thư tình được vo viên nhét kĩ dưới đáy lon Guigo cơm cháy, được ngụy trang khéo léo trong con chỉ thêu, cuộn len nhỏ, được cột vào mảnh gạch đôi qua lỗ thông hơi từ nhà vệ sinh ra phía sau khu trạm xá…

Những con đường giao lưu “huyết mạch” ấy dù bọn giám thị, trật tự có tinh quái mấy cũng đành bó tay. Ai mà lường hết được. Sức mạnh  tình yêu làm cho các đôi trai gái đã “sáng tạo” ra nhiều hình thức  đưa thư, cộng với kinh nghiệm trong hoạt động nội thành nhiều năm nên những mảnh giấy tràn ngập yêu thương ấy đi về an toàn, bảo mật. Chỉ vài lần do sơ sẩy, những “bức thư tình” được nuốt vội, tang chứng không còn, cùng lắm gắng chịu một trận đòn để bảo vệ người mình yêu…

Có những lần tiếng khóc gần như đồng thanh vang lên trong phòng của chị em khi họ chứng kiến cảnh người yêu mình bị tra tấn tàn nhẫn ở chân cột cờ, trước cửa phòng G&H. Những lọ dầu Nhị thiên đường, những hạt muối sống được ném ra từ song sắt, khi các vết tím bầm sưng tấy trên thân thể người yêu hiện rõ dưới làn roi của bọn giám thị…

Bên cạnh những nồng cháy, thăng hoa của tình yêu thì tình bạn trong tù ở nhà lao Đà Lạt giống như ngọn lửa nồng đượm ở chốn xà lim giá lạnh…

Những “bữa tiệc” trong “trường ca đói”

Ông Mai Bốn bồi hồi tâm sự: “Trong cuộc sống, ai cũng có nhiều loại bạn: bạn học, bạn đồng hương, bạn đồng nghiệp, bạn chiến đấu, nhưng với tôi còn có “bạn tù”. Nếu ai đã từng bị tù đày, dù chỉ “nhất nhật tại tù”, đã cùng chung song sắt cùm gông thì mới thấu hiểu hết cái tình của những người bạn tù.

Tôi không thể quên được hình ảnh anh Thái Bá Tro mặt mày đầy máu vẫn cố choàng người lên đỡ đòn cho ba anh Thắng, Toàn, Phong khi họ bị giám thị, trật tự đánh dã man”.

“Một đêm giá lạnh – Ông Mai Bốn kể - anh Huỳnh Ngọc Huệ và tôi bị giam ở cùng xà lim không phải cùng buồng mà chỉ chung vách. Sợ không chịu nổi cái lạnh buốt đến tận xương tủy, anh Huệ “chia sẻ” với tôi bằng cách đánh moóc vào tường: “Huệ lạnh quá, Bốn ơi!” Tôi đánh lại bằng moóc  động viên bạn: “Hãy quay lưng sát vào tường đá”.

Hồi lâu nghe tiếng moóc lại vọng sang: “Đã hết lạnh chưa?”. “Đỡ rồi, có đồng đội bên cạnh thấy hết cả lạnh”. Sau lời anh Huệ, tôi cảm thấy ấm lên rất nhiều.

Ở nhà lao Đà Lạt, không tồn tại khái niệm giàu- nghèo, dư dả - thiếu thốn bởi tất  cả các khoản sinh hoạt phí đều dùng chung, bất kỳ anh em nào nhận được tiền quà của người nhà thăm nuôi, việc đầu tiên là tổ chức một bữa liên hoan bánh mì – cá hộp” sau đó mua khăn mặt, áo lót, bàn chải đánh răng để cả phòng cùng dùng.

Anh nào có hai bộ đồ kha khá thì chia cho bạn một bộ, anh Huệ nhường cho anh Hiệp, anh Toàn chia cho anh Mười, còn anh Lâu được anh Tro san sẻ.

Bữa cơm trong tù ít đến mức có thể… đếm được từng hạt nhưng Cồ và Ánh đã chấp nhận cơn đói rát cả ruột để nhường phần cơm cho Đặng Bảo Xi đang nằm ở xà lim thêm sức chiến đấu.

Cái đói ở nhà lao Đà Lạt lúc bấy giờ như một bản “trường ca” ngân dài. Nhưng những người tù đang độ tuổi thiếu niên ấy vẫn tìm thấy niềm vui và hơi ấm tình người trong cái đói, để cho bản “trường ca” bớt phần tủi cực…

Tại phòng B, một buổi chiều tháng 4/1973, khoảng hơn 4 giờ, ba anh em đang ngồi co ro, bụng đói cồn cào, bỗng nghe giọng nói vui vui của anh Khanh – một bạn tù vừa đi hành dịch về: “Tôi sẽ chiêu đãi các bạn một món rất đặc biệt”. 

Vừa nói, anh vừa đưa tay vào túi áo lấy ra một hộp diêm cây còn tay kia xòe ra, khoe bốn con mối cánh… Anh bảo: Nói khẽ thôi, chỉ đủ mỗi người một con”. Que diêm cháy sáng, con mối được hơ lên ngọn lửa, mùi thơm lan tỏa thật nhanh…

Đưa con mối lên miệng, cắn một nửa, trời ơi, sao mà thơm, mà béo, mà ngọt đến mê cả người. Cảm giác ấy cả đời không quên. Cho đến bây giờ, anh Khanh - người tạo ra buổi  “tiệc mối” ấy  vẫn có thói quen lẩn thẩn: cứ vào những ngày đầu mùa mưa anh vẫn nhặt vài con mối cánh hơ lên que diêm để thưởng thức mùi thơm độc đáo và tưởng tượng lại cái cảm giác tuyệt vời lúc ở phòng B trong nhà lao thiếu nhi Đà Lạt ngày ấy.

Phong trào “dạy và học” ở nhà lao Đà Lạt  sôi nổi, đều khắp và hiệu quả nhất. Học sinh có trình độ đa dạng: từ chưa biết chữ, rồi lớp Một, lớp Hai, lớp Năm, lớp Sáu… Dụng cụ dành cho “thầy” và “trò”  cũng đơn giản: than bếp, vôi tường trộn với cháo loãng thay phấn viết.

Tường nhà sàn xi măng thay cho giấy vở. Và lúc ra tù, cũng đồng nghĩa với “ra trường” hầu như ai cũng biết đọc biết viết, biết làm toán, thuộc dăm ba bài thơ… Đặng Ngọc Chúng là một “học trò” tiêu biểu. Vào tù, anh chưa hề biết chữ. Vậy mà sau mấy năm ở tù ra, giải phóng về anh thi vào lớp 6! Chị Huỳnh Yên Trầm My, Võ Thị Huyền Nga đang học lớp 6 thì bị địch bắt, năm 1973 ra tù, vào lớp 9 mà vẫn theo kịp chương trình.

Kỳ cuối: Cuộc vượt ngục lúc nửa đêm

Cùng chuyên mục

Xem thêm Phóng sự

Mới - Nóng

Khám phá