Dự án sử dụng vốn nhà nước:

Cần quy định chặt chẽ báo cáo nghiên cứu khả thi

TP - Đợt giám sát năm 2004 về tình hình sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong xây dựng cơ bản đã cho thấy có không ít báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt nhưng còn rất nhiều lỗ hỗng,

Nguồn vốn Nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm một tỉ lệ khá lớn trong những năm gần đây (năm 2007 đầu tư công chiếm hơn 20% GDP). Đầu tư nhiều cho các công trình công cộng là điều đáng hoan nghênh vì cần thiết cho sự phát triển bền vững của đất nước, với điều kiện công tác quy hoạch và các dự án đầu tư được chuẩn bị tốt.

Điều đáng quan tâm là lần giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI về tình hình sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong xây dựng cơ bản, cho thấy rằng trong rất nhiều trường hợp công tác quy hoạch và việc chuẩn bị dự án chưa đạt yêu cầu và đó là một nguyên nhân cơ  bản dẫn đến đầu tư dàn trải, kéo dài, nợ đọng, kém hiệu quả, lãng phí và thất thoát.

Đợt giám sát năm 2004 đã cho thấy có không ít báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt nhưng còn rất nhiều lỗ hỗng, ví dụ như chưa làm rõ được tính ổn định và bền vững của công trình, cũng như tác động lên môi trường phải có theo luật định. Thế nhưng không ít dự án như vậy đã được phê duyệt!

Qua tìm hiểu dự án “Luồng tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu qua Kênh Quan Chánh Bố” từ ba năm nay, bổ sung những ý kiến của lần giám sát năm 2004, chúng tôi cho rằng cần sớm làm rõ những quy định về yêu cầu tối thiểu đối với báo cáo nghiên cứu khả thi của một dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng đến đâu và như thế nào khi phê duyệt, một vấn đề mà cử tri muốn được minh định.

Theo chúng tôi, Bộ chủ quản của dự án đầu tư không được quyền duyệt dự án khi mà báo cáo nghiên cứu khả thi còn chưa làm sáng tỏ những nội dung cơ bản liên quan đến tính bền vững của công trình, có ý nghĩa quyết định đến tính khả thi của dự án, với lập luận rằng “những điều chưa sáng tỏ sẽ được nghiên cứu bổ sung khi đi vào nghiên cứu thiết kế kỹ thuật dự án”!

Lập luận như vậy, về thực chất là cho phép thông qua những nghiên cứu khả thi làm chưa tới nơi tới chốn, là mở ra khe hở dẫn đến tình trạng khá phổ biến là tổng dự toán công trình bị “đội lên”, và những khe hở khác dẫn đến dàn trải, kéo dài, nợ đọng, kém hiệu quả, lãng phí và thất thoát. Trách nhiệm trước tiên phải thuộc về Bộ chủ quản của dự án.

Chúng tôi đồng ý rằng “với vai trò là Bộ quản lý chuyên ngành, Bộ “X” sẽ phải chịu trách nhiệm toàn diện về tính khả thi của dự án”. Nhưng thiết nghĩ Bộ Kế hoạch và Đầu tư không thể tự che chắn trách nhiệm của mình bằng lập luận trên bởi lẽ Bộ này chịu trách nhiệm cuối cùng về việc cấp ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản.

Theo chúng tôi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với chức năng và trách nhiệm của mình, có quyền và nhiệm vụ nói rõ ý kiến của mình trước Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ, nhất là khi có một cơ quan thẩm tra độc lập đánh giá rằng tính khả thi của dự án là chưa được đảm bảo. Sự phối hợp thực sự giữa các bộ bắt đầu từ nói thẳng và nói thật với nhau.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng có trách nhiệm tương tự khi thấy rằng báo cáo nghiên cứu khả thi chưa làm rõ tác động của dự án lên môi trường và tác động của môi trường lên tính bền vững của dự án.

Thiết nghĩ cũng cần nhắc lại một kết luận quan trọng của lần giám sát năm 2004 cần được luật hóa: Phải phá vỡ sự khép kín trong bộ chủ quản dự án, từ khâu quy hoạch đến xây dựng dự án, lập báo cáo khả thi, phê duyệt báo cáo này, thi công, giám sát thi công, nghiệm thu, ... để tránh tối đa lãng phí và thất thoát và tham nhũng.

Những ví dụ về những báo cáo nghiên cứu khả thi chưa đạt yêu cầu nhưng vẫn được duyệt không phải cá biệt. Đã đến lúc Chính phủ và Quốc hội cần đề ra những quy định về những yêu cầu tối thiểu để báo cáo nghiên cứu khả thi khi đã được phê duyệt là văn bản đảm bảo tính khả thi của dự án, và làm rõ phạm vi trách nhiệm của bộ chủ quản cũng như các bộ ngành chức năng có liên quan.

Có như vậy mới mong đồng vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản được sử dụng có hiệu quả như cử tri mong đợi. 

GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại QH khóa XI

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá