Dự án Nhà máy nhiệt điện Na Dương:

Chưa hoàn thành đã lỗ hàng triệu USD

TP - Nhà máy nhiệt điện Na Dương (Lộc Bình, Lạng Sơn) - một trong những dự án trọng điểm sản xuất điện, được Thủ tướng phê duyệt năm 1998, với tổng mức đầu tư 124,26 triệu USD.

Thi công tại Nhà máy Nhiệt điện Na Dương. (Nguồn : Vneconomy)
Dự án do Tổng Cty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Than và Khoáng sản VN - gọi tắt là TVN) làm chủ đầu tư. Mới đây, hàng loạt sai phạm tại dự án này đã bị phát hiện.

Đấu thầu “tùy hứng”

Theo thiết kế, sản lượng điện của Nhà máy nhiệt điện Na Dương khoảng 600 GWh/năm. Ngoài 15% vốn tự có của TVN, tổng mức đầu tư còn lại (tương đương 105,621 triệu USD) là vốn tín dụng ưu đãi Nhà nước. Thế nhưng, theo Thanh tra Nhà nước, quá trình đấu thầu cũng như giao nhận dự án này đã làm thất thoát của Nhà nước hàng triệu USD.

Trong 5 gói thầu của dự án, gói thầu 3 - Lựa chọn nhà thầu xây dựng theo phương thức EPC - là gói thầu quan trọng nhất và có nhiều sai phạm nghiêm trọng nhất.

Sau phiên đấu thầu (ngày 8/12/1999 có 8 nhà thầu tham gia), 3 nhà thầu gồm: Sumitomo (Nhật Bản), Marubeni (Nhật Bản) và Technopromextport (LB Nga) đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật được đưa vào danh sách. Tuy nhiên, giá bỏ thầu của các nhà thầu này đều vượt giá khởi điểm từ 39,7% - 63,47%.

Sau khi xem xét báo cáo kết quả đấu thầu của TVN, Thủ tướng đã đồng ý “không có đơn vị nào trúng thầu”; đồng thời yêu cầu TVN thương thảo trực tiếp 2 nhà thầu (lần lượt theo thứ tự Marubeni - gọi tắt là MC; Technopromextport - gọi tắt là TPE).

Bộ Công nghiệp đã điều chỉnh 18 nội dung trong hồ sơ mời thầu (theo chỉ đạo của Thủ tướng) để giảm giá gói thầu. Việc điều chỉnh này kéo theo sự thay đổi mã hiệu hàng hóa, nơi SX, trình độ SX và giá các thiết bị. Thế nhưng, TVN lại không trình Bộ Công nghiệp điều chỉnh tiêu chuẩn xét thầu để làm cơ sở xét thầu. Đã thế, khi đàm phán trực tiếp với các nhà thầu, TVN lại bỏ qua nhà thầu TPE; chỉ đàm phán với nhà thầu MC.

Sau khi chào lại giá, nhà thầu MC bỏ thầu 117 triệu USD (làm tròn số), còn TPE 102 triệu USD. Theo quy chế đấu thầu, đương nhiên TPE trúng thầu. Thế nhưng, một lần nữa, TVN bỏ qua TPE; đồng thời ưu ái nhà thầu MC bằng cách tự ý điều chỉnh 24 nội dung giảm giá.

Điều này đã làm giảm giá gói thầu cho MC hơn 6,6 triệu USD. Dầu vậy, giá bỏ thầu của MC vẫn cao hơn TPE. Đấy là chưa kể nếu nhà thầu TPE được áp dụng giảm giá 24 nội dung trên thì giá bỏ thầu của TPE chỉ còn hơn 95 triệu USD (thấp hơn giá khởi điểm gần 5 triệu USD).

Như vậy, theo quy chế đấu thầu, TPE trúng thầu. Thế nhưng, vì TVN không tiến hành đàm phán với TPE theo chỉ đạo của Thủ tướng nên TPE không được công nhận trúng thầu.

Ngược lại, TVN lại trình Bộ Công nghiệp công nhận MC trúng thầu. Điều này không đúng với kế hoạch đấu thầu do chính TVN ban hành (được Chính phủ phê duyệt) và trái ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng (tại công văn 937/CP-CN, ngày 18/10/2001).

Ai bù lỗ hàng triệu USD?

Nhà thầu MC cứ thế tiến hành thi công gói thầu được giao và đã không đảm bảo tiến độ, phát sinh khoản lỗ hàng triệu USD, đến nay cả bên giao lẫn bên nhận thầu vẫn đang như gà mắc tóc.

Theo hợp đồng, nhà thầu MC phải bàn giao tổ máy 2 cho TVN vào ngày 2/8/2004. “Nếu chậm tiến độ, mỗi ngày nhà thầu MC phải bồi thường cho TVN 70.000 USD”. Đến thời hạn trên, tổ máy 2 vẫn chưa thi công xong nên không thể bàn giao. TVN tiếp tục tự ý cho phép nhà thầu MC kéo dài thời gian thêm 2,5 tháng và không thu tiền phạt hợp đồng.

Tính đến 31/8/2005, so với hợp đồng, thời gian bàn giao tổ máy 1 đã chậm 15 tháng; tổ máy 2 chậm 12 tháng. Nếu theo gia hạn của TVN thì tiến độ thực hiện tổ máy 1 chậm 12,5 tháng; tổ máy 2 chậm 9,5 tháng. Theo đó, chi phí phát sinh khoảng 104 tỷ đồng và 216.500 USD; thời gian kéo dài thêm 2,5 tháng làm phát sinh thêm 15 tỷ đồng trả lãi vay và 57.000 USD thuê tư vấn. Số tiền này đến nay vẫn chưa có nguồn thanh toán.

Khi nhà máy này hoạt động, việc bán điện cũng sẽ gây ra khoản lỗ không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Theo báo cáo nghiên cứu khả thi, nếu nhà máy này chạy 6.000 giờ/năm thì giá thành điện (để có lãi) là 5,81 cent/KWh; nếu chạy 6.500 giờ/năm thì giá thành là 5,581 cent/KWh.

Khi ký hợp đồng mua bán điện với Tổng Cty Điện lực Việt Nam (EVN), mặc dù TVN đưa ra giá thấp hơn dự tính (5 cent/KWh) với lý do “đây là dự án có nhiều khó khăn, tính khả thi về mặt kinh tế theo báo cáo nghiên cứu khả thi đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt rất có hạn” nhưng ngành điện cũng chỉ chấp nhận mua với giá 4,2 cent/KWh.

Như thế, so với giá thành TVN đề nghị thì sự chênh lệch này (0,8 cent/KWh) sẽ gây ra khoản lỗ lớn, chưa có nguồn bù đắp. Thậm chí, ngay cả việc bán than cho EVN, mỗi năm TVN cũng lỗ nhiều tỷ đồng (tính riêng trong năm 2004 và 8 tháng năm 2005, giá bán than cho EVN thấp hơn so với dự tính trong báo cáo khả thi đã làm TVN lỗ gần 27 tỷ đồng).

Và như thế, báo cáo khả thi của dự án ngay từ đầu đã thiếu khả thi. Thế nhưng, không hiểu sao dự án vẫn được triển khai?

Đề nghị chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra

Mới đây, Thanh tra Chính phủ đã có kết luận (văn bản số 537/TTCP, ngày 16/3/2006); tại dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Na Dương “thanh tra đã phát hiện các sai phạm nghiêm trọng”. Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho chuyển vụ việc “gói thầu 3” sang cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá