Những người con bất tử

TP - Tháng Bảy về, 90 triệu đồng bào cả nước vọng tưởng hàng triệu vong linh anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì dân tộc. Trong dòng chảy tưởng nhớ ấy, không thể không nhắc đến bao thế hệ hy sinh vì biển đảo của Tổ quốc.

9 người lính Trường Sa (mặc áo hải quân) bị Trung Quốc bắt giữ được thả về sau 3 năm giam giữ trái phép (tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu)
9 người lính Trường Sa (mặc áo hải quân) bị Trung Quốc bắt giữ được thả về sau 3 năm giam giữ trái phép (tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu)

Sự hy sinh anh dũng của họ là nguồn cội, biến thành sức mạnh, để quân và dân cả nước đoàn kết, quyết tâm đấu tranh bảo vệ giữ gìn giang sơn, gấm vóc Việt Nam.

Kỳ 1: Những chàng trai đi đảo không về

Trong nhiều câu chuyện kể về sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ Trường Sa, lịch sử Quân chủng Hải quân mãi nhắc đến 64 liệt sĩ trong trận hải chiến tháng 3/1988, trong đó có 7 chiến sĩ của Đại đội 9 thuộc Trung đoàn 83 Công binh Hải quân.

26 năm trôi qua- một khoảng khá dài so với dòng chảy của thời gian, đủ để xóa nhòa đi nhiều ký ức. Song có một điều không thể nào quên trong tâm tưởng của thân nhân các liệt sĩ, đó là người thân của họ đã ngã xuống ở Trường Sa.

Đại đội khuyết vì họ không còn

Một ngày đầu tháng Bảy, tôi tìm đến gặp Anh hùng, đại úy chuyên nghiệp Nguyễn Văn Lanh, hiện đang công tác tại Phòng hậu cần hành chính phía Nam, Quân chủng Hải quân - một trong các chiến sĩ của Đại đội 9 sống sót trở về. Ký ức trận hải chiến Trường sa ùa về xúc động khi anh Lanh kể về sự hy sinh của bảy đồng đội.

Sau ngày lên đường nhập ngũ và huấn luyện tân binh, 7 người con của phường Hòa Cường (Đà Nẵng) được biên chế vào Đại đội 9 thuộc Trung đoàn 83 Công binh Hải quân. Trước dã tâm của Trung Quốc đem quân đánh chiếm trái phép một số đảo, điểm đảo trong quần đảo Trường Sa, toàn bộ các chiến sĩ của Đại đội 9 được huy động đi đảo. 

“Ngày lên đường, anh em chúng tôi nói với gia đình sẽ trở về, không ngờ với nhiều đồng đội tôi, đó là ngày chia tay lần cuối” - anh Lanh nhìn ra khoảng trống trước phòng làm việc, rồi quay lại kể. 

Chiều 13/3/1988, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 83 Công binh Hải quân có mặt trên tàu HQ-604 chừng nửa tiếng đồng hồ thì tàu Trung quốc đến. Sáng 14/3, sau khi bắt, giết số chiến sĩ giữ cờ trên đảo Gạc Ma, quân Trung Quốc nã pháo 100 ly vào tàu HQ-604 cho tới khi tàu chìm. Tàu Trung Quốc tiếp tục truy sát những chiến sĩ còn sống sót. Một số chiến sĩ may mắn thoát được lúc đó cũng bị Trung Quốc truy lùng bắt làm tù binh đem về giam ở Quảng Đông.

Bảy người con của phường Hòa Cường (Đà Nẵng) đã anh dũng hy sinh trong trận chiến ấy sau khi kết thành vòng tròn bất tử giữ cờ trên đảo Gạc Ma là Trương Quốc Hùng, Trần Tài, Phan Văn Sĩ, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Văn Lợi, Lê Văn Xanh, Nguyễn Phú Đoàn. Đại đội 9, nơi mà trước đây các anh đã học tập, rèn luyện nay vẫn còn phiên hiệu, chỉ khác là khuyết 7 vị trí.   

Máu các anh tô thắm cờ Tổ quốc

Đại úy Nguyễn Văn Lanh bồi hồi nhớ lại: “Ký ức về trận đánh ngày 14/3/1988 không thể nào quên, đó là trận đánh ác liệt nhất, đổ máu và tổn thương nhiều nhất”.

Những người con bất tử - ảnh 1 Đảo Cô Lin sừng sững giữa Biển Đông. ảnh: Tuấn Cường

Tại đảo Gạc Ma lúc 6 giờ sáng ngày 14/3, khi các chiến sĩ tàu HQ-604 và một phân đội Công binh Hải quân chuyển vật liệu vào xây đảo, thì bất ngờ phát hiện 4 tàu đen xì của Trung Quốc lao tới với tốc độ cao. 

Ngay lập tức, trung tá Trần Đức Thông đã lệnh thiếu úy Trần Văn Phương cùng 2 chiến sĩ Nguyễn Văn Tư và Nguyễn Văn Lanh cơ động bằng xuồng máy, nhanh chóng vào bãi cạn Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc. Các chiến sĩ công binh đứng thành vòng cung, phía sau lưng là cờ Tổ quốc, phía trước đối mặt với kẻ thù.

Khi thấy ta cho lực lượng lên bảo vệ cờ, tàu Trung Quốc đã thả 2 xuồng đổ bộ và 8 lính vũ trang lao thẳng về phía đảo Gạc Ma nã đạn. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa 3 chiến sĩ Hải quân Việt Nam với 8 lính tàu chiến Trung Quốc có vũ khí hiện đại ngay trên Gạc Ma. 

Cũng ngay lúc đó, tàu Trung Quốc đã tiếp tục thả 3 thuyền nhôm và 40 lính đổ bộ lên đảo. Thuyền trưởng tàu HQ-604 Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội, sử dụng vũ khí AK47, RPD, B40, B41 chống trả quyết liệt, yểm trợ cho đồng đội. Tàu Trung Quốc lập tức tập trung hỏa lực mạnh, nã pháo vào tàu HQ-604. Tàu bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. 

Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, trung tá Trần Đức Thông và tất cả cán bộ chiến sĩ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh lúc giằng co với lính chiến tàu Trung Quốc để cắm cờ Tổ quốc lên đảo lần 2, bị lê của tên lính đâm xuyên vai trái và một viên đạn xuyên lưng trái. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương. 

Trước lúc hy sinh, thiếu úy Phương tay vẫn ôm lá cờ Tổ quốc, hô vang “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”. Ngày 6/1/1989, liệt sĩ Trần Văn Phương được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Những dòng thư để lại

Trong số 64 liệt sĩ nằm lại Trường Sa, có một liệt sĩ quê ở Điện Bàn, Quảng Nam đất thép anh hùng tên Nguyễn Bá Cường. Để tường tận về anh, tôi đã tìm gặp trung tá Nguyễn Viết Chức, nguyên thuyền trưởng tàu HQ-07, để nghe ông kể về liệt sĩ Cường tại nhà riêng của ông ở phường 11, TP Vũng Tàu.

Những người con bất tử - ảnh 2 Di vật của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương trước khi hi sinh tại đảo Gạc Ma (ảnh tác giả chụp lại từ ảnh tư liệu)

Cũng như nhiều người lính hải quân xung phong đi Trường Sa năm 1988, Nguyễn Bá Cường được điều xuống tàu HQ-604 làm nhiệm vụ. Trước khi xuống tàu, Cường thuộc quân số biên chế của Học viện Hải quân Nha Trang.

Ngày ra đi, bà Trương Thị Ngò, mẹ của Cường bảo “26 tuổi rồi mà chưa vợ con gì. Đi xong đợt này, về cưới cho mẹ cô vợ, đẻ thằng cu rồi đi. Mẹ già rồi, cần có cháu bồng bế chớ”. Cường chỉ cười “Mẹ yên tâm, con sẽ cưới vợ và đẻ một đàn cháu, tha hồ mẹ bế”. Ai ngờ, mong ước bình dị ấy chẳng bao giờ thành sự thật.

6 ngày sau khi hy sinh tại trận hải chiến Trường Sa 1988, di vật của liệt sĩ Nguyễn Bá Cường được đưa về đất liền. Hành trang của người lính đảo chỉ có chiếc ba lô đựng bộ quân trang, vài lá thư và một cuốn nhật ký viết bằng mực tím đầy ắp tâm tư của người lính trẻ: “Mặc dù biết rằng khi ta bước chân ra đi thì chưa biết ngày nào trở về với gia đình (…), trước mắt gia đình ta khó khăn về mọi mặt, cha ta một nắng hai sương, mẹ ta lo chạy vạy ngày hai bữa...”...

Câu chuyện bữa cơm cuối cùng của liệt sĩ Đinh Ngọc Doanh, quê ở Hoa Lư, Ninh Bình 26 năm qua vẫn in đậm trong tâm khảm của người vợ - chị Đỗ Thị Hà. Lần theo số điện thoại, tôi gọi cho chị Hà để xin kể về kỷ niệm thời anh Doanh còn sống.

Từ đầu dây Khánh Hòa, chị Hà nghẹn giọng “Tôi chẳng quên được bóng hình anh ấy dù đã quá lâu rồi”. Chuyện bữa cơm cuối cùng chia tay anh Doanh đi đảo thế nào chị? Thay vì trả lời là tiếng nấc nghẹn trong máy điện thoại. 

Trước ngày lên đường đi Trường Sa, anh Doanh đến nhà chị Hà và nói với mẹ vợ: “Hôm nay, con ăn cơm nhà má bữa cuối, má à”. Má chị Hà mắng: “Anh chỉ nói gở”, rồi quay đi lau giọt nước mắt. Bà không muốn con rể nhìn thấy sự lo lắng của người thân trước giờ đi đảo, dẫu bà hiểu có thể lời con rể nói là sự thật. 

“Sớm hôm sau, anh Doanh chia tay cả nhà lên đường. Đúng một tuần sau thì nhận được tin anh hy sinh, tôi như chết lặng, còn mẹ tôi thì gào khóc. Bà bảo, anh Doanh nói linh thật. Không ngờ bữa cơm ấy là lần cuối bà nấu cho anh.

Cách đây mấy năm, ngư dân vớt được một số xương cốt của các liệt sĩ ở bãi cạn gần đảo Gạc Ma. Tôi đã lấy mẫu xét nghiệm ADN, hy vọng có hài cốt của chồng mình nhưng không phải. Năm 2009, tượng đài Cam Ranh xây dựng, tôi thấy có tên anh Doanh ở đó”, chị Hà nghẹn ngào khóc trong điện thoại.

64 linh hồn bất tử

64 liệt sĩ hy sinh trong trận hải chiến Trường Sa ngày 14/3/1988, có một sĩ quan đeo quân hàm cấp trung tá, 2 sĩ quan cấp đại úy, 3 sĩ quan cấp thượng úy, 2 sĩ quan câp trung úy, 2 sĩ quan thiếu úy, 1 sĩ quan chuẩn úy.

Liệt sĩ là hạ sĩ quan chiến sĩ có 46 người (2 thượng sĩ, 9 trung sĩ, 11 hạ sĩ, 17 binh nhất, 7 binh nhì); hai quân nhân chuyên nghiệp, một liệt sĩ giữ chức thuyền trưởng, 4 liệt sĩ giữ chức phó thuyền trưởng, 1 liệt sĩ giữ chức đại đội trưởng, 3 người giữ chức trung đội trưởng, 2 chiến sĩ giữ chức tiểu đội trưởng.

Dù các anh mang quân hàm cao hay thấp, giữ chức vụ gì, thì sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử, sống mãi trong lòng các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong suốt 26 năm qua.

“64 liệt sĩ hy sinh trong trận chiến Trường Sa ngày ấy, luôn nhắc nhở chúng ta một điều, phải luôn nêu cao cảnh giác. Máu xương hôm qua đổ xuống, là bài học để hôm nay chúng ta giữ biển, đảo bằng sức mạnh dân tộc. 64 liệt sĩ đã ngã xuống, mãi mãi bất tử trong lòng nhân dân”, trung tá cựu binh hải quân Hoàng Văn Thể, nguyên thuyền trưởng tàu HQ-11 anh hùng nói.

(Còn nữa)

Cuộc chiến đấu không cân sức giữa cán bộ chiến sĩ Hải quân Lữ đoàn 125, Trung đoàn 83 công binh với tàu Trung Quốc ngày 14/3/1988 là cuộc chiến đấu cam go và nhiều tổn thất.

Trong cuộc chiến đấu ấy, 3 tàu của ta bị chìm và cháy, 11 chiến sĩ bị thương, 73 cán bộ chiến sĩ mất tích.

Sau này Trung Quốc trao trả cho Việt Nam 9 người, 64 người còn lại hiện vẫn mất tích và được coi như đã anh dũng hy sinh. Bãi cạn Gạc Ma của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp từ đấy.

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá