Sau rét kéo dài sẽ là khô hạn lịch sử?

TP - Các chuyên gia thời tiết đang nghĩ đến kịch bản về khả năng khô hạn lịch sử có thể xảy ra ở nửa phần phía bắc nước ta sau đợt rét lịch sử nằm ngoài dự đoán hiện nay.

Sau khi chấm dứt đợt rét liên tục kéo dài 36 ngày, khoảng đầu tháng 3, kèm theo trời ấm là xuất hiện mưa trên diện rộng.

Tuy nhiên, theo TS Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương (DBKTTV), lượng mưa trên diện rộng này trong tháng 3 sẽ thấp hơn trung bình nhiều năm.

Do khu vực thượng nguồn của các con sông bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy vào nước ta cũng được dự báo thiếu hụt, cộng với cuộc chạy đua tích nước cho các nhà máy thủy điện, lượng nước trên các sông chính ở Bắc Bộ như sông Đà, Lô, và Thao sẽ thiếu hụt mạnh, ít hơn 15-30% so với cùng kỳ năm trước.

Sông Hồng cạn trơ đáy năm 2007. Ảnh: Hồng Vĩnh                                       

Dự báo ngắn hạn này cũng phù hợp với dự báo trung hạn của các chuyên gia ở Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng - Khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn & Môi trường (KTTV&MT).

Theo đó, từ nay cho đến hết tháng 4, không chỉ thời tiết lạnh hơn (nhất là ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Trị, Kon Tum, Tây Ninh và Bình Thuận, v.v…), lượng mưa cũng có thể ít hơn so với mức chuẩn trung bình của 30 năm qua.

Nguy cơ thiếu hụt lượng mưa xảy ra ở khá nhiều nơi thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ và khu vực tỉnh Hà Tĩnh.

Mặc dù chưa thông báo kế hoạch cắt giảm điện trong mấy tháng tới, Tập đoàn Điện lực Việt Nam vẫn thừa nhận sự thiếu hụt nghiêm trọng lượng nước ở các hồ chứa thủy điện.

Điển hình là hồ Tuyên Quang hiện chỉ còn 400 triệu m3, chỉ đủ để phát điện cho hai phần ba số giờ chạy một tổ máy từ nay đến hết tháng 5.

Bộ NN&PTNT cũng đang tính đến kịch bản thiếu hụt 1/3 lượng nước tưới trong mấy tháng tới.

Theo Trung tâm DBKTTV, mực nước sông Hồng tính từ đầu tháng 2/2008 đến nay cũng ít hơn trung bình nhiều năm 0,7 m, thấp hơn cả mực nước thấp lịch sử trên sông này hồi cuối năm ngoái.

Một quan chức trong ngành nông nghiệp cho biết công tác thủy lợi thời gian gần đây và sắp tới hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào việc điều tiết nước của các nhà máy thủy điện.

Vẫn theo quan chức đề nghị giấu tên, dấu hiệu xung đột lợi ích ngày càng tăng giữa hai ngành điện và nông nghiệp.

Nước mưa trung bình hàng năm, trên toàn lãnh thổ nước ta khoảng 650km3. Khối lượng nước này trải đều trên bề mặt đất liền sẽ có lớp nước mưa dày 1960mm.

So với nhiều nước trên thế giới, tài nguyên nước mưa của nước ta khá phong phú, nhiều hơn khoảng 2,5 lần so với lượng mưa trung bình Trái Đất (800mm) và Châu Âu (789mm); 2,6 lần Châu Á (742mm) và Bắc Mỹ (756mm), Châu Úc (742mm), và Châu Phi (742mm).

Hàng năm, mỗi người dân nhận được 8125m3 nước trời cho.

Tuy nhiên 2/3 lượng nước lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ quốc gia. Mặt khác, mùa khô lại kéo dài 6-7 tháng, làm cho nhiều vùng thiếu nước trầm trọng.

Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên nước như tăng dòng chảy lũ, lũ quét, cạn kiệt nguồn nước mùa cạn, hạ thấp mực nước ngầm, suy thoái chất lượng nước.

“Ngành điện muốn tích nước để đảm bảo nguồn điện.

Thậm chí họ đặt vấn đề bồi thường cho toàn bộ diện tích lương thực thiệt hại do thiếu nước xả từ hồ chứa”, quan chức nói.

“Tính toán cho thấy, một mét khối nước dùng để phát điện đem lại lợi nhuận cao gấp nhiều lần nếu dùng cho nông nghiệp.

Nếu tính toán thuần tuý như thế, ngành nông nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên ở nước ta có nguy cơ suy thoái”.

Các cuộc đàm phán giữa hai bên về điều tiết nước xả liên tục diễn ra.

Đàm phán mới nhất dẫn đến thỏa hiệp là ngành điện đồng ý lùi thời hạn điều tiết nước đến giữa tuần sau, 27/2, để giúp ngành nông nghiệp chống hạn.

Nguy cơ xung đột lợi ích

Các chuyên gia khí hậu lưu ý điều này báo hiệu tương lai không sáng sủa về cuộc khủng hoảng nước, về sự xuất hiện các mâu thuẫn mới trong quan hệ giữa các thành phần trong xã hội.

“Mâu thuẫn hai đơn vị điện lực và nông nghiệp hiện nay, nói gì thì nói, vẫn nằm trong tầm kiểm soát và dễ giải quyết vì cả hai đơn vị này đều thuộc Chính phủ”, TS Trần Duy Bình – Chủ tịch Hội đồng Trung tâm Nghiên cứu KHCN Khí tượng & Thuỷ văn, nói.

“Nhưng khi phong trào làm thủy điện vừa và nhỏ đang được tư nhân hóa mạnh, quản lý hoặc thỏa thuận xả hồ chứa còn khó hơn nhiều, chứa đựng các nhân tố xung đột lớn hơn nhiều.

Tôi không biết hậu quả gì sẽ xảy ra cho ngành nông nghiệp trong tương lai không xa nếu không nhanh chóng chuyển đổi giống cây trồng chịu hạn tốt hơn, nếu không tính toán ngay từ bây giờ một kế hoạch quản lý hiệu quả các nhà máy thuỷ điện tư nhân sắp tới.

Hiểm họa do biển đổi khí hậu đem lại, mà khan hiếm nước và tranh giành nguồn nước là ví dụ điển hình, sẽ khủng khiếp hơn cả chiến tranh như nhận định của tân Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc”.

mỗi khi có La Nina, thường mưa lũ nhiều hơn. Tuy nhiên, La Nina xuất hiện từ tháng 12/2007 với cường độ trung bình và vẫn đang hoạt động lại gây ra đợt rét kỷ lục ở nước ta thay vì mưa nhiều”.

TS Bình lưu ý Việt Nam nằm ở vị trí mà hầu hết các El Nino và La Nina ở Thái Bình Dương mỗi khi xảy ra đều gây ảnh hưởng. “Hầu hết các La Nina và El Nino ở Thái Bình Dương đều ảnh hưởng đến nước ta. Từ năm 1950 trở lại đây, tổng cộng có 11 La Nina tác động đến nước ta và mức độ ảnh hưởng diễn tiến theo xu thế ngày càng trầm trọng”.

Sự đỏng đảnh của hai hiện tượng hải dương đã  tác động trực tiếp đến nước ta từ năm ngoái. “Thông thường phải ít nhất 5-6 tháng sau khi kết thúc El Nino mới xuất hiện La Nina. Nhưng La Nina năm ngoái xuất hiện chỉ 2-3 tháng sau khi hết El Nino”, nhà khoa học nhiều năm kinh nghiệm về thời tiết nói.

“Diễn biến hiện nay của thời tiết với sự hiện diện của La Nina lại thêm bằng chứng cho thấy trạng thái khí quyển thời gian gần đây rơi rất nhanh, chuyển từ pha nọ sang pha kia trong thời gian ngắn hơn nhiều so với trước”.

TS Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Hội đồng Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Môi trường & Phát triển, cũng cho rằng biến động của khí quyển đại dương gần đây rất lớn. Bởi sự đỏng đảnh ngày càng gia tăng của thời tiết, các nhà khí hậu càng tỏ ra dè dặt trong dự báo.

Song bất luận thiên tai gì xảy ra, các nhà khoa học đều tin mức độ khốc liệt sẽ rất cao. “Dự đoán khô hạn sắp tới, nếu có, sẽ khốc liệt hơn là dựa trên quan điểm như vậy. Sau đợt rét lịch sử, rất có thể là một đợt khô hạn lịch sử”, TS Bình chia sẻ.

Theo TS Ninh, cần chủ động cho tình huống xấu nhất. “Đây cũng là lúc tất cả chúng ta, từ cấp vạch chính sách, thực thi chính sách, cho đến các tầng lớp dân cư, phải thay đổi mạnh mẽ nhận thức và hành vi của mình trong cách ứng xử với thiên nhiên”, ông khuyến cáo.  

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá