Tai nạn gia tăng vì chạy theo thành tích

TP - So với mục tiêu đề ra, ngành Than đã về đích trước 10 năm. Thế nhưng, cùng với việc tăng sản lượng khai thác là sự gia tăng tai nạn lao động (TNLĐ), đặc biệt là TNLĐ chết nhiều người cùng lúc.

Báo Tiền Phong đã đặt 3 câu hỏi đối với ngành Than (cụ thể là ông Đoàn Văn Kiển - Tổng giám đốc Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam) trong việc để xảy ra vụ tai nạn thương tâm làm chết 4 người ngày 31/3 vừa qua.

Ngay sau khi đăng tải, Tiền Phong đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc đồng tình với cách đặt vấn đề trên. Ngày 11/3, ông Kiển đã chủ trì cuộc họp kiểm điểm công tác an toàn của ngành Than giai đoạn 2001 - 2005 với sự tham gia của nhiều bộ ngành, trong đó đề cập sâu sắc tới vụ sập lò trên.

Có ý kiến cho rằng, người đứng đầu ngành than phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng này.

Tai nạn gia tăng vì chạy theo thành tích

Tôi đang lo, không biết có còn cán bộ nữa không

Đó là ý kiến của ông Trần Văn Hải - CB phụ trách an toàn của TKV khi trao đổi với PV Tiền Phong, chiều 12/4 xung quanh việc xử lý trách nhiệm trong các vụ TNLĐ ngành Than.

Liên quan vấn đề này, ông Hải cho biết thêm: Năm 2002, xử hình sự 2 vụ (phạt tù giam 36 tháng đối với 1 PGĐ xí nghiệp, 24 tháng tù giam đối với 1 quản đốc).

Năm 2005, cảnh cáo 3 người (1 GĐ Cty, 2 PGĐ Cty); khiển trách 3 người (1 GĐ Cty, 1 PGĐ Cty, 1 GĐ xí nghiệp); đề nghị khởi tố hình sự 1 vụ.

Tại các đơn vị trực thuộc, 73 CB bị cách chức, 40 CB bị khiển trách, 23 CB bị hạ bậc lương.

Nếu như năm 2001 toàn ngành Than mới khai thác được 16 triệu tấn than thì đến năm 2005 con số này đã đạt hơn 34 triệu tấn. Như vậy, so với mục tiêu đề ra, ngành Than đã về đích trước 10 năm. Thế nhưng, cùng với việc tăng sản lượng khai thác là sự gia tăng tai nạn lao động (TNLĐ), đặc biệt là TNLĐ chết nhiều người cùng lúc.

Thống kê sơ bộ, năm 2005, ngành Than đã để xảy ra 27 TNLĐ, làm chết 35 người. Quý I/2006, trong số 11 vụ TNLĐ, làm chết 23 người trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thì ngành Than đã để xảy ra tới 9 vụ, làm chết 21 người (trong đó có 4 vụ đặc biệt nghiêm trọng).

Xin kể ra đây vài vụ TNLĐ điển hình trong ngành Than từ đầu năm đến nay:

Lúc 4 giờ 50 phút, ngày 8/2, tại Cty than Vàng Danh đã xảy ra đổ lò cục bộ làm 2 người chết. Ngày 25/2, xảy ra vụ TNLĐ do than tụt từ nóc lò tại Xí nghiệp xây lắp và sản xuất than Khe Chàm II (Cty than Hạ Long), làm 2 người chết.

Không lâu sau, ngày 6/3, xảy ra vụ nổ khí mê tan tại Cty than Thống Nhất đã làm 8 người thiệt mạng. Mới đây nhất, ngày 31/3, vụ sập lò tại Cty than Mông Dương đã làm 4 người chết, 17 người bị mắc kẹt trong nhiều tiếng đồng hồ (trong số này có nhiều người bị thương).

Điều đáng nói, trong các vụ TNLĐ xảy ra tại ngành Than, nguyên nhân chủ yếu lại bắt nguồn ở khâu quản lý. Vụ tai nạn xảy ra tại Cty than Vàng Danh (ngày 8/2) được xác định là do cán bộ phân xưởng nhận định, đánh giá điều kiện sản xuất chưa chính xác, sau đó ra lệnh sản xuất không phù hợp thực tế.

Cụ thể, cán bộ phân xưởng chưa cho chống xén đủ số lượng (vì chống gỗ) theo quy định đã tiến hành thu hồi (vì chống sắt), dẫn đến tụt đổ cục bộ gây tai nạn. Đặc biệt, trong vụ tai nạn này, công tác tự kiểm tra, giám sát chưa sâu sát và thường xuyên; phân công lao động chưa phù hợp.

Trong vụ TNLĐ tại Xí nghiệp xây lắp và sản xuất than Khe Chàm II (ngày 25/2), nguyên nhân được xác định là do lấy than phá hoả vượt quy định. Theo đó, mặc dù mỗi ca chỉ được lấy sâu tối đa 2m nhưng lúc xảy ra tai nạn, công nhân tại mỏ này đã lấy gấp đôi quy định (4m). Sau khi điều tra, thanh tra ATLĐ đã kết luận: Nguyên nhân sâu xa của vụ TNLĐ này là do “chạy theo thành tích”.

Một chuyên gia ATLĐ cho biết, hầu hết các Cty khai thác hầm lò đã vượt thiết kế 300 - 400% sản lượng, trong khi tuổi thọ các hầm lò này đã 50 - 60 năm, độ an toàn thấp. Đầu tư công nghệ, kỹ thuật mới của ngành Than chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Vẫn còn hàng nghìn “túi nước”?

Luật sư Mạnh Xuân Sơn (Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Thủy - Đoàn luật sư Hà Nội):

Có thể xử lý hình sự

Trong vụ sập lò xảy ra ngày 31/3 vừa qua, nếu cơ quan chức năng xác định được các tình tiết:

Ngành Tham đã biết có sự tồn tại “túi nước” này nhưng không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả; theo quy trình, khi nổ mìn phải thông báo mà không thông báo; khi đã xảy ra tai nạn, nếu cứu người ngay ở cửa Vũ Môn mà có thể hạn chế thấp nhất hậu quả hoặc theo yếu tố chuyên môn mà cần tiến hành cứu người ở đó để có thể hạn chế thấp nhất hậu quả thì theo quy định của pháp luật có cơ sở để khởi tố vụ án hình sự. 

Nguyên nhân vụ tai nạn sập lò xảy ra tại Cty than Mông Dương ngày 31/3 được xác định ban đầu là do quá trình nổ mìn làm bục “túi nước” (ông Đoàn Văn Kiển- Tổng giám đốc Tập đoàn Than và Khoáng sản VN (gọi tắt là TKV) trả lời báo chí). Vụ tai nạn này một lần nữa là bài học đau xót cho ngành Than.

Thế nhưng, như Tiền Phong đã đề cập, những vụ tai nạn tương tự không những không được hạn chế mà còn gia tăng theo thời gian. Theo đó, số công nhân thiệt mạng vì hầm mỏ càng tăng đã khiến người ta không khỏi thắc mắc về trách nhiệm của người đứng đầu ngành Than.

Đáng lẽ, những vụ TNLĐ đặc biệt nghiêm trọng làm chết nhiều người cùng lúc đã không xảy ra, nếu như ngành Than quan tâm hơn nữa đến quy trình ATLĐ...

Hai loại nguyên nhân có nhiều khả năng gây tai nạn trong khai thác hầm mỏ là nổ khí mê tan và bục “túi nước”. Theo đánh giá của Bộ Công nghiệp, 100% các mỏ khai thác than bằng phương pháp hầm lò ở VN bị xếp từ loại I đến siêu hạng về khả năng cháy nổ khí mê tan (CH4).

Mỗi Cty than trực thuộc TKV hiện đang quản lý 35 - 50 km đường hầm lò. Cùng đó, số lò “thổ phỉ” và lò cũ (tự sập hoặc bị đánh sập) cũng tương đương. Do đó, hàng triệu m3 nước đang nằm trên mức khai thác, tích tụ thành “túi nước” trở thành mối nguy hiểm lớn đối với hơn 4 vạn thợ mỏ.

Thực tế đã từng xảy ra một số vụ tai nạn có nguyên nhân từ bục “túi nước” trong thời gian qua. Năm 1996, khi tiến hành khai thác gặp phải phay bùn nước tự nhiên lớn (“túi nước” tự nhiên) tại Cty than Mạo Khê đã làm chết 2 người. Khoảng năm 1998 - 1999, tại Xí nghiệp Khe Tam (nay thuộc Cty than Hạ Long) xảy ra vụ tai nạn do bục “túi nước” từ lò than “thổ phỉ”, làm chết 2 người…

Ngành Than đã làm gì để hạn chế khả năng bục “túi nước”? Theo các chuyên gia, để hạn chế từ “nguồn”, điều quan trọng nhất vẫn nằm ở khâu khoan thăm dò địa chất (nhằm đánh giá các điều kiện về nước, khí, chiều dầy của vỉa, đá vách, đá trụ…).

Việc này được tiến hành ra sao?

Ông Trần Văn Hải - CB phụ trách an toàn của TKV cho PV Tiền Phong biết: Mật độ các mũi khoan được thực hiện theo phân cấp quy định của ngành địa chất. Cụ thể, đối với vùng địa chất cấp A thì mỗi mũi khoan cách nhau 150 m; cấp B là 250 - 300 m; cấp C là 500 m.

Theo tài liệu thiết đồ lộ khoan thì hầu hết các điểm của vùng than Quảng Ninh đều thuộc cấp C. Tuy nhiên, điều đáng nói, tài liệu địa chất này được Nhà nước duyệt từ năm 1960 (sau đó bổ sung vào năm 1965) đến nay đã quá lạc hậu.

Vì tầng địa chất đã biến đổi nhiều sau thời gian mấy chục năm (lò than “thổ phỉ”, vận động địa chất…). Mặc dù hàng năm Cty địa chất và khai thác khoáng sản (thuộc TKV) vẫn tiến hành khoan bổ sung nhưng thực chất chưa đáp ứng được yêu cầu.

Hơn nữa, chi phí cho mỗi mũi khoan khá lớn (hàng trăm triệu đồng/mũi) cũng là nguyên nhân khiến ngành Than chưa chú trọng đúng mức việc khoan thăm dò…

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng