Tổng Bí thư Lê Duẩn như tôi biết

TP - Tôi không bao giờ quên cái ngày mà lớp lớp cán bộ miền Nam chúng tôi phải “dứt áo ra đi”, lòng bịn rịn bước xuống tàu thủy để tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève 1954.

Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn với thanh niên Hà Nội năm 1982  Ảnh: Phạm Yên

Chia tay người đi kẻ ở, ai nấy đều thắc thỏm giơ hai ngón tay hẹn nhau rằng hai năm sẽ đoàn tụ khi “Tổng tuyển cử” được thực hiện như trong văn bản của Hiệp định.

Về sau này tôi được biết, lúc đó có một người đã đề nghị với Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng cho mình ở lại miền Nam. Và trên chiếc xuồng bí mật quay trở lại Cà Mau, người đó đã khóc, lòng quặn đau nỗi thương cảm với đồng bào đồng chí, vì người đó đã nhìn thấy trước rằng: Bà con mình, đồng chí mình giơ hai ngón tay hẹn nhau đầy lạc quan như vậy mà có biết đâu rằng cũng chỉ hai năm tới đây sẽ bị Mỹ- ngụy khủng bố dã man.

Và sự thật đã diễn ra đúng như tiên liệu của Anh. Người đó là Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.

Có thể nói, nỗi đau lớn nhất của cách mạng Việt Nam là ngay sau Hiệp định Genève 1954, đồng bào miền Nam thì tay không đấu tranh đòi thi hành hiệp định, còn đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thì dùng bạo lực thực hiện một đại chiến dịch đàn áp dã man những người kháng chiến cũ, những người dân muốn “Tổng tuyển cử” thi hành đúng hiệp định, bản hiệp định mà những nội dung quan trọng nhất đã có sự thoả thuận của các nước lớn.

Quần chúng không còn con đường nào khác hơn là phải vùng lên, sống chết với Mỹ-Diệm. Tình thế cách mạng cho các cuộc khởi nghĩa từng phần đã chín muồi.(1)

Khí thế sục sôi cách mạng của quần chúng đòi hỏi có ngay một ngọn cờ lãnh đạo của Đảng cộng sản, và việc anh quyết định ở lại miền Nam đã đáp ứng kịp thời với đòi hỏi đó. Trong bối cảnh đó, đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định bản chất của Mỹ-ngụy, anh đã cùng Xứ ủy Nam Bộ nhanh chóng nắm bắt tình hình, soạn thảo ra “Đề cương cách mạng miền Nam”(2).

Tiếp đó, tháng 1/1959, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (Khoá II) mà anh là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị giao cho việc chỉ đạo soạn thảo. Bản Nghị quyết được hình thành trên cơ sở định hướng năm 1954 của Hồ Chủ tịch và của “Đề cương cách mạng miền Nam”.(3)

Mùa Hè năm 1957, Hồ Chủ tịch gọi đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội. Khi được gặp anh Lê Duẩn ở Bộ Quốc phòng, tôi đã sốt ruột hỏi anh là tại sao ta không đẩy nhanh, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên, thì anh nói rằng:

“Ở trỏng, quân Mỹ-ngụy bắn giết, tàn sát dân mình quá thể. Sau một vài trận đầu ta đánh thử nghiệm có hiệu quả, chừ khắp miền Nam đang rậm rịch chuẩn bị và nóng lòng chờ lệnh cho hoạt động vũ trang. Nhưng từ hôm ra miền Bắc tới nay mới chỉ một vài tháng, mà tôi đã thấy tình hình quốc tế, tình hình trong nước nó phức tạp quá, và càng thấy rõ một điều rằng, dù mình rất muốn nhưng không thể nôn nóng được.

Làm cách mạng phải biết chờ đợi. Vì đây là việc quá lớn, phải là Bộ Chính trị và Trung ương Đảng quyết định nhiệm vụ của hai miền, của cả nước, thì mới làm được và làm mới có hiệu quả”.

Thời điểm đó, trong lãnh đạo Trung ương có những ý kiến chưa thật đồng nhất. Có người thấy Mỹ-ngụy trắng trợn vi phạm và phá hoại hiệp định, khủng bố và tàn sát đẫm máu nhân dân miền Nam thì nôn nóng muốn phát động đấu tranh vũ trang để đánh trả. Có người thì cho rằng cần kiên trì đấu tranh yêu cầu đối phương thi hành hiệp định để ta có thêm một thời gian hồi phục sức dân, tổ chức và củng cố lực lượng.

Lại có người cho rằng lúc này cách đúng nhất là đấu tranh bằng phương pháp hoà bình, ta nghiêm chỉnh thi hành hiệp định thì sẽ buộc đối phương thi hành hiệp định v.v.

Là người lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày đêm suy nghĩ để vạch ra chủ trương và phương pháp, bước đi cho cách mạng miền Nam sao cho giành thắng lợi mà ít tổn thất nhất, lại phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn và phức tạp.

Bởi vì, lúc này đường lối đối ngoại “Cùng tồn tại hoà bình”, giữ cách mạng trong thế thủ đang thắng thế trong phong trào cộng sản quốc tế... Chính vì trong một bối cảnh như thế nên Hội nghị Trung ương lần thứ 15 phải họp thành hai đợt trong 7 tháng trời (4), đề án phải sửa chữa, bổ sung, soạn thảo gần 30 lần, chưa kể thời gian chuẩn bị đề án đã mất 2 năm ở miền Bắc và hơn 3 năm ở miền Nam. Khi văn bản Nghị quyết 15 ra đời, nó là sản phẩm trí tuệ của tập thể Ban Chấp hành Trung ương. 

Mùa Hè năm ngoái, khi anh Phạm Văn Xô bệnh nặng, tôi tới thăm anh tại Bệnh viện Thống Nhất, được anh cho biết:

Anh và anh Phan Văn Đáng được thay mặt Xứ ủy Nam Bộ ra dự Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng). Tháng 8/1957 hai anh ra tới Hà Nội, chờ đợi hết năm 1958, đến tháng 1/1959 mới được dự họp “thảo luận ở tổ”. Sau hội nghị đợt 1 không thấy kết quả, các anh thất vọng xin trở về Nam.

Trước khi về, đồng chí Lê Duẩn bố trí cho hai anh lên chào Bác Hồ, anh Duẩn nhủ: “Cứ nói hết tình hình miền Nam với Bác”.

Và, Hồ Chủ tịch đã căn dặn các anh: “Miền Nam ở xa, Xứ uỷ Nam Bộ phải chịu trách nhiệm với Trung ương. Cách mạng phải sáng tạo. Kiên quyết không để cho Mỹ-Diệm tiêu diệt cách mạng miền Nam!”.

Các anh đã trao đổi hai ngày với anh Lê Duẩn trước khi về Nam. Anh Lê Duẩn bảo: “Bác nói thế đúng rồi! Vậy các anh về báo cáo với Xứ ủy cứ thế mà làm!”. Không khí cách mạng của cả miền Nam đang hừng hực như cánh đồng cỏ khô, chỉ chờ một mồi lửa là bùng cháy…

Nghị quyết 15 của Trung ương ra đời, phù hợp với tình hình quốc tế và trong nội bộ lãnh đạo của ta lúc bấy giờ, đáp ứng được nguyện vọng bức thiết  của cán bộ, đảng viên và quảng đại quần chúng nhân dân ở miền Nam. 

Nghị quyết 15 thật sự là một nghị quyết về “Chuyển chiến lược” - Từ đấu tranh chính trị đơn thuần chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng tàn bạo của kẻ địch, vận dụng và phát huy phương pháp cách mạng của cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 trong hoàn cảnh mới; cách mạng miền Nam chuyển từ thế thụ động sang thế chủ động tiến công.

Nghị quyết 15 đã cắm mốc lịch sử vô cùng quan trọng của cách mạng Việt Nam, nó phù hợp với tình hình thực tế nên đã tạo bước tiến nhảy vọt cho phong trào cách mạng miền Nam.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định:

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã rất tinh tường sáng suốt khi giao cho anh trọng trách: Trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam kháng chiến chống thực dân Pháp sau Cách mạng Tháng 8/1945; Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Tổng Bí thư của Đảng sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bằng tư duy sáng tạo và phẩm chất lớn lao, anh đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh cao cả đó, anh đã thật sự xứng đáng với sự ủy thác to lớn đó. Tự giác tôi luyện mình trong cuộc đấu tranh cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng chí Lê Duẩn đã trở thành nhà lãnh đạo lỗi lạc của cách mạng Việt Nam.

Trước kia tôi ở cương vị thấp nên không có điều kiện tiếp xúc nhiều với anh Lê Duẩn. Đến tháng 11/1973, sau khi được cùng anh Võ Văn Kiệt và Khu ủy Khu 9 lãnh đạo, chỉ huy lực lượng cách mạng của Quân khu đánh bại kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” của địch, làm phá sản chiến lược bình định lấn chiếm sau Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn, tôi được anh Lê Duẩn gọi ra Bắc báo cáo tình hình chiến trường.

Anh nói rằng: “Mỹ tăng cố vấn và tăng viện trợ để thực hiện quyết liệt ý đồ “Quốc gia dân tộc”; nhưng bọn ngụy quyền vẫn tham nhũng và mâu thuẫn nhau nên chưa thực hiện được. Cả bộ máy quân sự khá đồ sộ- từ quân chủ lực tới quân địa phương, bảo an dân vệ, đến phòng vệ dân sự... đông, đồ sộ nhưng không mạnh”.

Anh nói một cách rành rẽ và kiên quyết: “Quyết không để cho quân ngụy nó lại hồn, không để cho nó trấn tĩnh lại, phải chớp thời cơ càng nhanh càng tốt. Nếu một khi nó đã hết hoang mang, ổn định tinh thần rồi thì mình sẽ khó vô cùng. Nếu kế hoạch cơ bản về “Việt Nam hoá” của nó mà làm được 70% thì ta sẽ khó khăn. Lúc đó nếu còn chiến tranh thì sẽ trở thành “nội chiến”; mà đã như thế thì nó sẽ diễn ra như thế nào, không ai lường trước được”.

Để tâm nghiên cứu tình hình một chút thì thấy rất rõ là từ giữa năm 1973 đến đầu 1974, chúng đã bắt đầu thí điểm thực hiện kế hoạch ở một số vùng ven đô.

Bởi vậy Bí thư thứ nhất Lê Duẩn và Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã chỉ rõ: Nhằm lúc Mỹ rút nhưng chưa rút xong và không thể quay lại, ngụy ở lại thì chưa ổn định, đây là thời cơ tốt nhất để ta tổng tiến công và nổi dậy đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Thời cơ là vô cùng quan trọng. Thời cơ là sức mạnh.

Đây là một tư duy sắc sảo của anh. 

 (Còn nữa)

---------------------------------------------

1- Lịch sử Đảng CSVN-Nxb Chính trị quốc gia- Tập 2- Hà Nội 1995 - Trang 98.                                               

2- Bắt đầu soạn thảo từ cuối 1955 ở Bến Tre, hoàn thành tháng 8/1956 ở Sài Gòn. Đề cương đã được các Hội nghị Bí thư Tỉnh ủy Miền Tây góp ý kiến, sau đó đã thảo luận kỹ trong cuộc Hội nghị Xứ ủy mở rộng cuối năm 1956 đầu 1957 ở Phnôm-Pênh.

3- Văn bản Cục Lưu trữ BCHTW số 83-TB/TW ngày 24/7/1997: “Thông báo về các kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VIII”(Về Nghị quyết 15 BCHTW Khoá II và về một số điểm trong Di chúc của Hồ Chủ tịch).

4- Đợt 1: Từ ngày 12 đến 22 tháng 1/1959. Đợt 2: Từ ngày 10 đến 15/7/1959 (Tài liệu “NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 15 BCHTW ĐẢNG KHOÁ II ĐƯỢC HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO” - Tài liệu tổng hợp từ các văn kiện và nhân chứng lịch sử - Lưu trữ Văn phòng trung ương Đảng).

Đại tướng Lê Đức Anh
Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá