Tổng Bí thư Lê Duẩn như tôi biết  (kỳ cuối)

TP - Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là người có bộ óc phân tích chiến lược sâu sắc. Ông có những đánh giá, nhận định trong các lĩnh vực chính trị thế giới, kinh tế - xã hội cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thế nhưng, hiện nay trong cán bộ đảng viên và quần chúng còn một số muốn chỉ trích và phê phán, đổ lỗi cho Anh về những khó khăn và bức xúc của nền kinh tế-xã hội ở thập niên có lẻ sau ngày miền Nam giải phóng.

Tôi cho rằng như vậy là chưa hẳn đã công bằng. Chúng ta hãy hình dung lại xem nền kinh tế của ta ở mức nghèo nàn và lạc hậu vào hạng nhất nhì thế giới, lại phải trải qua liên tục hai cuộc chiến tranh khốc liệt.

Sau giải phóng 1975, tỷ lệ thương tật, chưa kể số nhiễm chất độc hóa học là trên 10%, đây là tỷ lệ cao nhất thế giới. Khói súng chiến tranh chưa tan hết, hậu quả nặng nề của hơn 30 năm chiến tranh chưa khắc phục được bao nhiêu.

30/4/1975 miền Nam giải phóng, thì chỉ 5 tháng sau, ngày 15/10/1975, đế quốc Mỹ lại thỏa thuận việc sử dụng tập đoàn Pôn Pốt gây chiến và đánh ta từ hướng Tây Nam, đồng thời sử dụng các thế lực khác bao vây ta ở các hướng khác, trong nội bộ thì tiến hành ráo riết việc gây chia rẽ và bạo loạn lật đổ, và ngay sau đó là cuộc xung đột vũ trang trên tuyến biên giới phía Bắc.

Chúng ta bị Mỹ và các nước thân Mỹ bao vây cấm vận, trong khi đó Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đang mắc sai lầm nghiêm trọng rồi dẫn tới sụp đổ. Theo đó, khối SEV, nguồn viện trợ duy nhất của ta cạn dần rồi mất hẳn.

Ta bị khủng hoảng về kinh tế-xã hội, lạm phát tới 774%, trong khi Liên Xô rơi vào khủng hoảng toàn diện, lạm phát còn nặng hơn ta nhiều lần.

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế, tôi cho rằng Đảng ta mà đứng đầu là Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chèo chống như vậy, giữ cho không bị sụp đổ, tuy có ngả nghiêng vất vả nhưng vẫn trụ vững, dần ổn định và tìm cách đi lên là một kỳ tích đáng tự hào.

Với anh Lê Duẩn, ở thời điểm này tuy tuổi đã cao, sức khỏe đã giảm nhưng ý chí, phẩm chất và tư duy sắc sảo của anh không hề giảm.

Tại Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 3/1982), trong Báo cáo chính trị do anh trình bày, đã nghiêm khắc phê bình hai loại nhận thức: Một là, “chủ quan nóng vội”, đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô và quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất,…

Đưa quy mô hợp tác xã nông nghiệp lên quá lớn ở một số địa phương. Hai là, “bảo thủ, trì trệ”, “duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp, chậm thay đổi các chính sách, chế độ nên đã kìm hãm sản xuất”.

Đại hội quyết định “Đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hóa hiện hành. Xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp; khắc phục bằng được tình trạng trì trệ, bảo thủ…Vừa nắm vững giá trị sử dụng, vừa rất coi trọng giá trị và quy luật giá trị”.

Như vậy, ngay từ Đại hội V, Ban chấp hành Trung ương và đồng chí Tổng Bí thư Đảng ta đã nghiêm khắc chỉ ra mặt tiêu cực của cơ chế quan liêu bao cấp và quyết định loại bỏ cơ chế này. Hay nói một cách khác là “Tư duy về đổi mới nền kinh tế, đổi mới đất nước” đã xuất hiện từ trước thềm Đại hội V.

Chính anh Lê Duẩn là người đầu tiên phát hiện ra “vấn đề của nông dân”. 5% ruộng đất giao cho hộ gia đình thì người ta làm ra 45% thu nhập, còn 95% ruộng đất giao cho hợp tác xã thì chỉ làm ra khoảng 50% thu nhập.

Như vậy người nông dân làm ruộng không có động lực, cần phải tạo ra động lực cho bà con nông dân. Do đó, khi anh Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đề ra chủ trương “Khoán hộ”, anh là một trong số ít người đầu tiên ủng hộ.

Chỉ tiếc rằng ở thời điểm đó thì vấn đề này là quá mới, nó lại đi ngược với suy nghĩ và cách làm lâu nay nên tư duy của anh Kim Ngọc và sự ủng hộ của anh Lê Duẩn không được đa số đồng tình.

Trao đổi với mọi người, anh Lê Duẩn vẫn thường nói một mệnh đề mà anh hằng tâm đắc: “Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo; nên nhiều khi đường lối cách mạng phải trải qua rất nhiều thử nghiệm và sáng tạo mới đạt tới chân lý”.

Lịch sử về đổi mới nông nghiệp đã minh chứng: Bắt đầu từ tư duy “Khoán hộ” của anh Kim Ngọc, 15 năm sau thì xuất hiện “Khoán chui”, “Khoán sản” của Hải Phòng đã làm cơ sở cho Chỉ thị 100 của Ban Bí thư tháng 1/1981 và Nghị quyết “Khoán 10” (tháng 4/1988) của Bộ Chính trị khóa VI.

Lúc này, sức sản xuất thực sự được giải phóng, sản xuất bung ra, lương thực bung ra. Nếu như trước đó, khi anh Lê Duẩn đề ra chỉ tiêu 21 triệu tấn, nhiều người hoài nghi, thì đến đây chúng ta không những đã giải quyết được cơ bản về lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, mà còn có gạo xuất khẩu - Một sự kiện “như mơ giữa ban ngày”.

Tôi còn nhớ, giai đoạn nhiệm kỳ Đại hội IV và V, khi anh Lê Duẩn và Bộ Chính trị chủ trương tập trung đầu tư cho một số công trình trọng điểm như: Thủy điện Hòa Bình, nhiệt điện Phả Lại, rồi xi măng Hoàng Thạch, thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long v.v.. thì có khá nhiều ý kiến chỉ trích - Đời sống nhân dân đang khó khăn thiếu thốn, hàng tiêu dùng đang khan hiếm nghiêm trọng, sao không đầu tư làm xà phòng, thuốc đánh răng cho dân dùng, vải cho dân mặc, mà lại dồn hết tiền của vào điện và xi măng?…

Còn về dầu khí - Lúc đó, bị lôi kéo vào chiến dịch cấm vận, các Cty kinh doanh dầu khí của một số nước đang hợp tác với ta liền chịu bồi thường để hủy bỏ hợp đồng và rút lui. Sau khi cân nhắc, cuối cùng Đảng và Nhà nước ta quyết định mời Liên Xô vào hợp tác liên doanh, mặc dù khả năng và kinh nghiệm thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi của Liên Xô không bằng các nước khác.

Để thực hiện việc này, anh Lê Duẩn đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta thăm chính thức Liên Xô. Kết quả là tại điện Kremli, dưới sự chứng kiến của hai đồng chí Tổng Bí thư, Hiệp định về việc Liên Xô giúp Việt Nam thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam và thành lập Xí nghiệp Liên doanh Việt-Xô được ký kết.

Hai đồng chí Nguyễn Lam và Baibacôp là Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch của hai Chính phủ đã ký hiệp định. Và, Việt-Xô Petro trở thành mốc son lịch sử ra đời của ngành Dầu khí Việt Nam. Như vậy, sự thật đã trả lời là anh đúng! Công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hôm nay đã và đang thành công là nhờ có cơ sở nền tảng của những công trình mà thế hệ lãnh đạo của anh đã lo trước một bước.

Tôi còn được biết: Hồi đó, khi nghe trình bày dự thảo Điều lệ Xí nghiệp Liên doanh Việt-Xô, anh Lê Duẩn đã nói: “Trong dự thảo này chúng ta giao hết phần thềm lục địa phía Nam cho Liên Xô hay sao?

Chúng ta chỉ dành cho Liên Xô một số lô thôi. Ta phải dành các lô khác để hợp tác với các nước khác. Mỹ đã thua ta. Họ nhất định trước sau gì cũng sẽ đặt quan hệ làm ăn kinh tế bình thường với ta. Giờ họ còn cay cú, nhưng rồi hội chứng chiến tranh sẽ qua đi, thế nào cũng qua đi. Ta cần phải tạo thời cơ để hợp tác làm ăn với các nước khác, kể cả với Mỹ.

Vì không kể lĩnh vực quân sự thì Mỹ là nước có nền kinh tế lớn và nền khoa học kỹ thuật cao nhất thế giới. Cách làm kinh tế của Mỹ có hiệu quả cao. Không tìm cách làm ăn hợp tác kinh tế với Mỹ để phát triển là không khôn ngoan….

Khi khai thác được, việc bán dầu thô chỉ là biện pháp tình thế, tạm thời; ta phải sớm làm nhà máy lọc dầu, hoá dầu, nhà máy hoá chất từ khí đốt; nhiều nước đều làm như vậy. Dầu mỏ và khí đốt là khoáng sản, khai thác mãi cũng có ngày sẽ hết, không giống như tài nguyên rừng, chặt đi còn có thể trồng lại.

Ta không nên khai thác dầu chỉ để tiêu xài, mà phải coi dầu khí là cái vốn ban đầu để công nghiệp hoá đất nước, tạo ra những ngành kinh tế khác để sử dụng lao động, tạo ra của cải mới”.

Những ý kiến từ ngày đó của anh, cho đến hôm nay không những còn nguyên giá trị mà nó còn đáng cho chúng ta suy nghĩ sâu thêm trong chiến lược dầu khí nói riêng, chiến lược phát triển kinh te - xã hội đất nước nói chung.

Bởi vậy, tôi cho rằng, chúng ta thường nói Đại hội Đảng VI là mốc son của công cuộc Đổi mới đất nước. Điều đó đúng. Nhưng không có nghĩa là đến Đại hội VI thì mới có Đổi mới, mà ý tưởng này đã manh nha từ Đại hội IV, tới Đại hội V càng rõ dần ra, và tới trước thềm Đại hội VI thì tình thế, điều kiện về mọi mặt (nhận thức tư tưởng, kinh tế- xã hội…) đã chín muồi cho việc Đảng và Nhà nước ta quyết định công bố chủ trương đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước.

Đất nước ta, Dân tộc ta có nền văn hiến trường tồn, nên tuy lịch sử đã qua bao thăng trầm, nhưng hầu hết các triều đại không xảy ra chuyện triều đại này phủ định triều đại kia bằng thủ đoạn xóa sạch một cách tàn bạo; hoặc phân đoạn quá rạch ròi- “Cái này của vị A, cái kia của ông B”, mà ở ta luôn có tính kế thừa nhau, trân trọng nhau, vừa công bằng vừa nhân ái.

Đảng ta đã kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện cả trong xây dựng tổ chức Đảng, cả trong việc nhìn nhận, đánh giá công lao, phẩm chất của từng con người, từng tổ chức, từng lực lượng ở từng giai đoạn cách mạng khác nhau.

Người đi trước tin tưởng và truyền lại tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình cho thế hệ kế tiếp. Đáp lại, thế hệ đi sau trân trọng, biết ơn và kế tục xứng đáng những điều tốt đẹp, những thành tựu của lớp cha anh để lại. Đó là nếp sống, là cách ứng xử nhân văn, thái độ đúng đắn nhất của mỗi chúng ta.

Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với anh Lê Duẩn là tại Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng đầu năm 1947 ở Đồng Tháp Mười. Anh chủ trì hội nghị, một hội nghị vô cùng quan trọng vì không những nó củng cố, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mà nó còn định hướng cho tổ chức Đảng các cấp trong toàn Xứ ủy để lãnh đạo kháng chiến chống Pháp trước tình hình cấp bách đang diễn ra.

Từ hội nghị này, anh em Nam Bộ đặt cho anh cái biệt hiệu là “Ông 200 bougies”- ý nói tư duy mẫn tuệ sáng như ngọn đèn hai trăm bu-gi. Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi có nhiều lần từ chiến trường được ra Bắc báo cáo tình hình với anh. Sau giải phóng 1975, tôi có điều kiện gặp anh nhiều hơn. Không phải ở anh cái gì tôi cũng bằng lòng 100%, nhưng có hai điểm thì tôi luôn luôn nhất trí:

Một là, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày đêm anh đau đáu suy nghĩ việc đó. Năm xưa anh hào hứng mang bản “Đề cương cách mạng miền Nam” ra Bắc. Tình hình nội bộ chưa thuận, anh kiên trì đi vận động từng người.

Tình hình quốc tế trắc trở, anh là một trong những người đi Liên Xô và Trung Quốc nhiều nhất để vận động, thuyết phục; và bằng thực tế tổ chức đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta, hai người bạn lớn từ chỗ không ủng hộ đã đi tới ủng hộ tích cực và có hiệu quả cuộc kháng chiến của ta.

Năm 1972, có một sự kiện đã gây  khó khăn rất lớn đối với cách mạng Việt Nam. Nhưng, một lần nữa, anh Lê Duẩn đã cùng Bộ Chính trị- Bộ óc tối cao của cách mạng Việt Nam, tỉnh táo, sáng suốt tìm ra sách lược mới.

Trí tuệ Việt Nam đã vượt lên trên sự tính toán của các nước lớn. Và, quyết định của anh giải phóng nhanh trong hai năm 1975-1976, tiến tới giải phóng trước tháng 5/1975 khi thời cơ đã tới. Đây là một quyết định sắc sảo; tôi cho rằng quyết định này có từ trí tuệ chứ không chỉ từ tấm lòng.

Hai là, anh luôn luôn là một con người đôn hậu. Sự đôn hậu không chỉ thể hiện khi anh đưa ra những chủ trương, chính sách để cải thiện, mang lại cuộc sống cho người dân ngày càng tốt hơn, mà còn thể hiện trong tiếp xúc, ứng xử đối với anh em, đồng chí, với bạn bè quốc tế. Anh vẫn đôn hậu với cả những người đã xử sự với anh không đúng đắn.

Hôm nay, nhân kỷ niệm 20 năm ngày anh từ biệt chúng ta đi về cõi vĩnh hằng, chúng ta nhớ về anh, một cán bộ lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo không ngừng của cách mạng Việt Nam, một Người Anh đôn hậu, đáng kính trọng và vô cùng biết ơn!

Hà Nội tháng 7/2006

Video đang được xem nhiều

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá