Trường Sa ngày 30/4/1975

TP - Ngày 10/3/1975, quân ta làm chủ Buôn Mê Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị sớm giải phóng các đảo, quần đảo do quân đội Sài Gòn đóng giữ. Đây là một vùng lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí hết sức quan trọng về kinh tế và quân sự.

Chuẩn Đô đốc Đỗ Viết Cường kể: Cuối tháng 3/1975, Đoàn 126 được lệnh vào tham gia giải phóng các tỉnh miền Nam. Nhận được lệnh, lập tức chúng tôi lên đường.

Từ Hải Phòng, theo Quốc lộ 1, vượt đèo Hải Vân, Đoàn dừng chân tại huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Đà (nay là Đà Nẵng). Ngày 6/4/1975, đồng chí Hoàng Hữu Thái, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân giao nhiệm vụ cho Đoàn 126 tấn công và giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Nghe được đi giải phóng đảo, anh em Đội 1 mừng lắm, người nào người nấy chuẩn bị đồ dùng trang bị và tập luyện sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh.

Trường Sa là một quần đảo lớn, gồm trên 100 đảo lớn nhỏ và bãi đá, bãi san hô ngầm, nằm ở phía đông đông nam, cách Cam Ranh khoảng 460 km. Việc giải phóng quần đảo Trường Sa là trách nhiệm thiêng liêng của người lính hải quân.

Tham gia đánh chiếm quần đảo này có lực lượng Sư đoàn 2 Quân khu 5,  Đoàn 125 và Đoàn 126 Hải quân. Chỉ huy trưởng là đồng chí Mai Năng (Đoàn 126), Chỉ huy phó là đồng chí  Dương Tấn Kịch (Đoàn 125). 

Đội 1 Đoàn 126 Hải quân nhận lệnh giải phóng đảo Song Tử Tây và đảo Sơn Ca. Lãnh đạo chỉ huy Đội 1 họp chớp nhoáng phân công nhau: Đồng chí Nguyễn Ngọc Quế, Đội trưởng chỉ huy lực lượng trực tiếp tiến công đánh chiếm địch ở đảo Song Tử Tây, còn tôi là Đội phó chỉ huy anh em đánh chiếm đảo Sơn Ca.

Sáng 11/4/1975, biên đội gồm ba tàu 675, 674, 673 rời cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Đồng chí Dương Tấn Kịch phụ trách chung bí mật, bất ngờ, thần tốc tiến ra giải phóng đảo Song Tử Tây. 4 giờ 30 phút ngày 14/4/1975, quân ta giải phóng hoàn toàn đảo Song Tử Tây. Đây là hòn đảo đầu tiên được giải phóng ở quần đảo Trường Sa.

4 giờ sáng ngày 21/4/1975, chúng tôi được lệnh lên tàu. Chiếc tàu số hiệu 641 được cải trang thành tàu đánh cá, do đồng chí Trần Tú, thuyền trưởng điều khiển chở chúng tôi rời Đà Nẵng ra thẳng Trường Sa.

Lúc này, miền Nam còn nhiều vùng chưa giải phóng, khu vực biển  miền Trung có rất nhiều tàu nước ngoài hoạt động. Để tránh bị lộ, tàu của chúng tôi phải liên tục thay đổi biển số.

Chúng tôi phải nằm dưới khoang tàu 3 ngày liền, chờ ngày nổ súng. Kế hoạch dự kiến sẽ đánh vào đêm 23/4/1975, nhưng trên đường gặp nhiều tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay Mỹ nên cấp trên đồng ý cho lùi sang ngày 24/4/1975 mới tấn công đảo.

Những ngày đó, biển lặng nên cuộc hành trình của chúng tôi khá thuận lợi. Khi đi ngang qua đảo Thái Bình, tôi thấy nhiều pháo sáng bắn lên sáng rực. Mặc cho pháo sáng lơ lửng trên đầu, tàu của chúng tôi vẫn tiến.

Chuẩn Đô đốc Đỗ Viết Cường sinh tại Quảng Hà (Quảng Ninh). Ông nhập ngũ năm 1968, trưởng thành từ Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân. 

Ông được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng ngày 23/9/1973 và được tham gia chỉ huy bộ đội giải phóng đảo Sơn Ca thuộc quần đảo Trường Sa, năm 1975.

Lúc 21 giờ 30 phút, tàu 641 áp sát đảo Sơn Ca, cách đảo khoảng 2 hải lý. Chúng tôi quyết định đổ bộ lên đảo bằng xuồng. Nhưng lúc này nước chảy rất xiết, xuồng không tiếp cận được đảo nên việc đổ bộ không thành. Tôi bèn ra lệnh cho anh em trở lại tàu, đề nghị đồng chí Trần Tú cho tàu lùi ra, chạy lên phía trên đầu dòng hải lưu chờ nước dừng. Đến quá nửa đêm, mới lệnh cho anh em đổ bộ lần thứ hai.

Đêm đó trăng lên muộn. Nhờ ánh trăng nên chúng tôi nhận ra mục tiêu khá dễ dàng. Tôi lệnh cho 20 anh em chia làm ba mũi tấn công lên đảo. Mũi thứ nhất do đồng chí Nguyễn Văn Học làm mũi trưởng. Mũi thứ hai do tôi trực tiếp chỉ huy. Mũi thứ ba do đồng chí Hội chỉ huy.

Để tránh địch phát hiện, tôi lệnh cho anh em để xuồng cách xa đảo một đoạn, rồi bơi vào. Lần này ta bám được mép đảo không mấy khó khăn. 1 giờ 30 phút, các mũi bơi đến đảo mà địch không phát hiện được.

Sau khi trinh sát, tôi giao nhiệm vụ cho các hướng, các mũi tấn công, phân công một đồng chí dùng súng B-41 diệt ổ đại liên và hiệp đồng đúng 4 giờ sáng sẽ nổ súng. Hiệu lệnh nổ súng là tiếng lựu đạn của tôi ném vào hầm chỉ huy.

Lúc 2 giờ  40 phút, tôi tiếp cận hầm chỉ huy, một con chó phát hiện người lạ sủa ầm lên. Biết đã bị lộ, tôi quăng luôn lựu đạn vào hầm chỉ huy. Đồng chí giữ B-41 cũng nhằm luôn khẩu đại liên nhả đạn. Lúc đó các cỡ súng của ta đồng loạt nổ.

Bị đánh bất ngờ, quân địch chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy tán loạn. Ta bắt được mấy tên tù binh, tiến hành khai thác rồi phát loa gọi hàng. Bọn địch biết không thể cầm cự được, lũ lượt kéo nhau ra hàng.

3 giờ sáng, trận đánh kết thúc thắng lợi, ta làm chủ đảo Sơn Ca và thu được khá nhiều chiến lợi phẩm. Tôi lệnh cho anh em kéo cờ giải phóng trên đảo Sơn Ca khi trời vừa hửng sáng. Giữa biển khơi, lá cờ giải phóng phần phật tung bay trước gió làm cho tàu tuần dương hạm, tàu khu trục của địch lượn lờ quanh đảo nhưng không dám làm gì.

Nhận được tin đảo Song Tử Tây, Sơn Ca bị mất, quân địch trên các đảo khác hoang mang hoảng loạn, tìm cách tháo chạy. Chớp lấy thời cơ, quân ta nhanh chóng đưa các lực lượng ra tiếp quản chốt giữ các đảo.

Ngày 29/4/1975, sáu đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã được giải phóng. Cờ giải phóng tung bay đón ngày 30/4 giải phóng Sài Gòn.

Thượng tá Trần Thanh Hằng
Bảo tàng LS Quân sự VN

Cùng chuyên mục

Xem thêm Xã hội

Mới - Nóng

Khám phá