Những người cưỡi gió đánh giặc trời

Những người cưỡi gió đánh giặc trời
TP - Cùng Bộ đội tên lửa, cao xạ và các lực lượng khác, Không quân Việt Nam non trẻ đã góp công lớn trong trận thắng Điện Biên phủ trên không tháng 12 -1972.

> Lính SAM-3 thời B52, Góc khuất cuộc chiến
> Qua sông Lam, vượt Cổng Trời
> Xăng và máu

Loạt bài ghi chép này kể về những trận chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, những hy sinh to lớn và cả cuộc sống của họ trong và sau chiến tranh.

Kỳ 1: Người đầu tiên hạ B52

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, báo chí trong và ngoài nước đều ghi nhận trong số 68 chiếc B52 bị bắn tan xác trên bầu trời miền Bắc, có 2 chiếc bị Không quân bắn rơi bởi chiến công lẫy lừng của hai phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều trong 2 đêm 27 và 28 -12 -1972…

Thượng tá Vũ Đình Rạng
Thượng tá Vũ Đình Rạng.

Phải mấy chục năm sau, từ nhiều nguồn thông tin, người ta mới biết có đến 3 chiếc B52 bị Không quân Việt Nam hạ gục, và phi công đầu tiên trên thế giới cho B52 đo ván – thượng tá Vũ Đình Rạng, đang sống bình lặng trong căn nhà số 212 ở “Phố phi công” tức phố Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội (phố này có rất nhiều tướng lĩnh, sĩ quan không quân sinh sống).

Tạo bẫy

Vũ Đình Rạng xuất thân từ một miền quê nghèo thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình. Hôm chúng tôi tới thăm nhà, ông niềm nở đón tiếp khách: “Tôi nhập ngũ năm 1963, lúc đầu được chọn vào lính nhảy dù thuộc Lữ đoàn lính dù 305.

Sau khi giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, tôi được tuyển làm phi công lái máy bay tiêm kích, cùng sang Liên Xô học lái Mig-21 với Nguyễn Tiến Sâm, Ngô Văn Phú, Phạm Phú Thái, Nguyễn Đức Soát, Vũ Xuân Thiều, Trần Việt, Nguyễn Công Huy… Về nước, lớp phi công trẻ chúng tôi đã được biên chế về Sư đoàn Không quân Thăng Long nổi tiếng (Sư 371).

Cuối những năm 1960 đầu 70, địch điên cuồng bắn phá miền Bắc; đồng thời huy động một lực lượng khổng lồ các loại máy bay đặc biệt là B52 hòng chặn đứng đường tiếp viện cho miền Nam tại tuyến hành lang chiến lược Trường Sơn, cấp trên đã chủ trương tổ chức cho các phi công, sĩ quan dẫn đường và kíp chiến đấu, nghiên cứu, tập huấn cách đánh B52.

Từ cuối năm 1969, một tổ phi công chiến đấu do phi công Nguyễn Nhật Chiêu (sau được tuyên dương Anh hùng LLVTND – PV) – người đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ, dẫn đầu vào khu vực đèo Mụ Giạ - nơi bị B52 ném bom ác liệt nhất – để nghiên cứu quy luật, hoạt động, cách thức bảo vệ trong đội hình B52 rồi tìm ra cách đánh.

Sau một thời gian, Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định thành lập hai Sở chỉ huy Không quân ở tiền phương là B3 và B8. B3 đóng ở Yên Thành – Nghệ An do đích thân Tư lệnh Không quân Đào Đình Luyện chỉ huy.

Kíp sĩ quan dẫn đường có Lê Thành Chơn và Hoàng Kế Thiện. B8 đặt tại xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, do phó Tư lệnh Không quân, Thượng tá Trần Mạnh và Trung tá Trần Hanh chỉ huy, các sĩ quan dẫn đường là Nguyễn Văn Chuyên, Tạ Quốc Hưng, Trần Hồng Hà, đại đội radar dẫn đường do sĩ quan Lê Thiết Hùng điều khiển…

Thông thường, mỗi máy bay B52 được hộ tống bởi nhiều loại máy bay như F4, F105, nên việc tiếp cận B52 là cực khó. Ở thời điểm và hoàn cảnh lúc đó,
Mig-21 của ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc xuất kích từ những sân bay dã chiến tại khu 4 với đường bay ngắn hẹp,lại bị máy bay địch bắn phá liên tục.

Thêm vào đó, địa hình Khu 4 nhỏ, hẹp, phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Đông là hạm đội 7 với 12 radar túc trực ngày đêm theo dõi, nếu Mig-21 của ta bay cao thì rất dễ bị radar địch phát hiện, bay thấp thì dễ đâm vào núi.

Phi công của ta hầu hết còn trẻ, mới ra trường, giờ bay cũng chỉ trên dưới 200 giờ, lại phải bay đêm. Đã vậy, khi tập bắn mục tiêu, ta cũng chỉ có mô hình loại IL – 18 sải cánh 14m. Trong khi đó, sải cánh của B52 rộng tới 56 m nên cảm giác mắt nhìn thiếu chính xác…

Vị thượng tá nhấn mạnh: “Để có được trận đánh B52 lịch sử ngày 20-11-1971, công đầu tiên phải thuộc về Sở chỉ huy B8 và B3 cùng kíp sĩ quan dẫn đường và sĩ quan điều khiển radar.

Trước hàng loạt khó khăn đã nêu trên, Tư lệnh Đào Đình Luyện (chỉ huy B3) và phó Tư lệnh Trần Mạnh (chỉ huy B8) đã nhiều đêm vắt óc suy tính và cuối cùng tìm ra phương kế: tạo ra một cái “bẫy” để nhử B52. Dạo đó, cánh phi công trẻ chúng tôi cũng không hiểu vì sao, trong suốt một thời gian dài, khi phát hiện ra B52 mà B3 và B8 đều chỉ cho duy nhất 1 chiếc Mig-21 cất cánh. Sau khi phát hiện ra Mig-21, lũ B52 liền tìm cách “lỉnh”.

Phi công ta lại cho Mig-21 hạ cánh. Không thấy Mig-21 trên bầu trời khu 4, địch lại cho B52 trở lại oanh kích. Các máy bay của ta vẫn án binh bất động. Địch đã nắm vững được “quy luật” hoạt động của Mig-21 là mỗi tối chỉ xuất kích một lần duy nhất. Sau mấy tháng trời tạo “bẫy”, thời cơ đã chín muồi, B3 và B8 quyết định cho B52 “sập bẫy”.

Đó là chiều 20-11-1971. 17 giờ, phi công Hoàng Biểu được lệnh cơ động từ sân bay Nội Bài vào sân bay Vinh; tiếp đó, phi công Vũ Đình Rạng cũng lái chiếc Mig-21 từ Hà Nội, bay theo đường thấp vào sân bay Anh Sơn trực chiến.

19 giờ 30 phút, phát hiện thấy B52 từ Thái Lan tiến vào, Trung tá Trần Hanh lệnh cho Hoàng Bửu cất cánh để “nhử mồi”. Hoàng Bửu xuất kích về phía tây Quảng Bình. B52 đã tới khu vực đèo Mụ Giạ. Không lâu sau, radar của địch đã phát hiện ra chiếc Mig-21 do Hoàng Bửu lái, chúng liền lệnh cho tốp B52 quay trở về Thái Lan.

Lúc này, theo lệnh của chỉ huy, sĩ quan dẫn đường, Đại úy Nguyễn Văn Chuyên đã rất khôn khéo dẫn đường cho chiếc Mig-21 của Hoàng Bửu giữ nguyên độ cao 10.000m, từ đất Lào bay thẳng ra hướng sân bay Nội Bài, tạo niềm tin cho địch là chiếc Mig -21 đã bay ra hướng Bắc. Vẫn quen mui như mọi lần, địch yên chí là không còn mối đe dọa nào nữa.

Phóng đạn vào pháo đài bay

Thượng tá Vũ Đình Rạng kể tiếp: “Khi Hoàng Bửu cất cánh, tôi cũng đã được lệnh chuẩn bị xuất kích bất kỳ lúc nào, mọi phương án tác chiến đều được chỉ đạo từ trước lúc cất cánh.

Sau khi Hoàng Bửu bí mật hạ cánh xuống sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa), tôi được lệnh xuất kích. Để đảm bảo bí mật tuyệt đối, tôi được lệnh tắt radar, không liên lạc, không thông thoại với mặt đất, chỉ bay “vo” một mình.

Cũng như mọi lần, chờ cho chiếc Mig-21 của Hoàng Bửu bay ra hướng Bắc, địch cho một tốp B52 quay trở lại. Chúng đã bị “sập bẫy”, lúc này, Sở chỉ huy vẫn chưa cho tôi mở màn hình radar, mà chỉ thông báo cách địch 80km, hướng và tốc độ và lệnh cho tôi ném thùng dầu phụ (để máy bay cơ động, dễ dàng tăng tốc), tăng tốc lên 1.300 – 1.400 km/giờ. Tiếng của Đại úy Nguyễn Văn Chuyên vẫn liên tục vang bên tai: Còn cách 45 km, 30 km…

Cho đến lúc cách địch 15km thì tôi được phép mở màn hình radar. Không ngờ màn hình radar lúc đó rõ nét và trong vắt đến vậy, không một tín hiệu nhiễu, trên màn hình hiện rõ 3 chiếc B52 bay theo đội hình bậc thang: chiếc đầu tiên trong đội hình địch còn cách tôi 11 km, chiếc cuối cùng chỉ cách 6km.

Trong giây lát, tôi quyết định chọn chiếc đi đầu (để đủ thời gian ổn định đường ngắm) tiếp tục tiếp cận vào 2km và phóng một quả tên lửa vào nó.

Sau khi tên lửa rời giá phóng, tôi làm động tác thoát ly lên cao, nhìn sang bên phải tôi lại thấy một chiếc B52 khác với đèn nhấp nháy trên lưng, liền bổ xuống, đặt máy ngắm quang học vào đèn trên lưng chiếc B52 đó rồi phóng nốt quả tên lửa thứ hai và thoát ly, bay về hạ cánh an toàn trên sân bay Anh Sơn. Sau khi tắt hết đèn thì đã nghe thấy máy bay tiêm kích của địch ào ào bay tới…”.

Sau trận đánh lịch sử ấy, một thời gian dài không thấy bóng dáng B52 vào đánh phá tại khu vực đèo Mụ Giạ,tạo điều kiện thuận lợi để đoàn 559 vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam.

Không ai hay biết gì về số phận của chiếc B52 bị bắn tối hôm đó. Người phi công đánh B52 trận đầu đó cũng dần bị trôi vào lãng quên, cho tới mấy chục năm sau, tình cờ, sĩ quan dẫn đường bay ở B3 Lê Thành Chơn gặp được viên thiếu tá Không quân Mỹ Ralp Wetterhahn – nguyên phi công lái máy bay Phantom (Con ma) F4H đã 180 lần bay vào vùng trời miền Bắc với nhiệm vụ hộ tống các máy bay mang bom vào đánh phá Hà Nội.

W.Ralp cho hay, chiếc B52 do Vũ Đình Rạng bắn trọng thương, “lết” về được đến sân bay Nakhom Phanom(Thái Lan) thì bắt buộc phải hạ cánh và hư hỏng hoàn toàn, sau đó không sử dụng được nữa và trở thành đống sắt gỉ…

Sau này, một đồng đội của Vũ Đình Rạng là phi công Nguyễn Hồng Mỹ (người bắn rơi chiếc máy bay tiêm kích F101 đầu tiên trong năm 1972) trong một số dịp sang Mỹ, đã tới Trung tâm lưu trữ Không quân Mỹ và phát hiện ra tài liệu ghi nhận về chiếc B52 đầu tiên bị Không quân Bắc Việt “shot down” – “bắn hạ” đó. Đây cũng là chiếc B52 đầu tiên của Mỹ trên thế giới bị đối phương bắn hạ.

Chúng tôi chợt liên tưởng đến trường hợp của phi công Nguyễn Văn Ba – người bắn rơi chiếc C123 đầu tiên vào năm 1965. Mãi 30 năm sau, 1995, Nguyễn Văn Ba mới được tuyên dương Anh hùng LLVTND; ngay cả Vũ Xuân Thiều, với chiến công oanh liệt mà mãi 22 năm sau, 1994, mới được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND… Một đồng đội của Vũ Đình Rạng, quá sốt ruột, đã viết thư ngỏ, đề nghị phong tặng Vũ Đình Rạng - phi công đầu tiên trên thế giới hạ gục B52 – danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Năm 2009, bạn bè, đồng đội vui mừng khi Vũ Đình Rạng lọt vào danh sách mà Quân chủng Phòng không – Không quân đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Ba năm đã trôi qua, mọi chuyện vẫn chưa có tiến triển.

Còn nữa

Cùng chuyên mục

Ông Nguyễn Hồng Quang tỉ mỉ, chăm chút từng sản phẩm mới

Khắc khoải về làng gốm cổ Hương Canh

TP - Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men nổi tiếng bởi độ bền chắc và sắc màu trầm mộc mạc đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.

Anh Lưu Quang Hà bên sản phẩm bê tông nghệ thuật của Công ty

'Chúa chổm' xứ Tuyên đúc nên cơ nghiệp

TP - Lưu Quang Hà vừa rời giảng đường đại học, bước chân khởi nghiệp liền bị quỵt tiền, phải vay nặng lãi để sống. Ở nhà, bố mắc ung thư phổi, gia đình khánh kiệt, khiến anh Hà nhiều đêm bật khóc. Nhưng rồi, anh đứng dậy, gây dựng công ty chuyên làm sản phẩm bê tông nghệ thuật – ngành nghề mà anh được học, doanh thu tiền tỷ, tạo việc làm cho gần 20 lao động. Anh còn là Bí thư Chi đoàn ở tổ dân phố.

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.