Bác Hồ nói được bao nhiêu ngôn ngữ, có bao nhiêu tên gọi?

TPO - Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Bác Hồ được miêu tả: "Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha". Ngoài ra dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, Bác còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam…

Bác Hồ có tất cả bao nhiêu tên gọi?

1. Bác Hồ có tất cả bao nhiêu tên gọi?

  • A. 152

    Đáp án trả lời đúng là câu A: Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người đã qua 4 châu lục, 3 đại dương, đặt chân lên gần 30 nước, làm hàng chục nghề khác nhau. Trong điều kiện hoạt động cách mạng bí mật, Người phải thay đổi họ tên rất nhiều lần. Theo thống kê từ các tài liệu lịch sử và trên mạng internet, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tổng cộng 152 tên gọi, bút danh, bí danh. Tuy nhiên, cũng có nhiều tài liệu nói Bác Hồ có 132 tên gọi, bút danh, bí mật. Một số tên của Bác như: Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Văn Ba, Vương, Lý Thụy, Lin, Thầu Chín, Tống Văn Sơ, Hồ Quang, Già Thu, Nguyễn Ái Quốc, XYZ, Nguyễn, T.L., Trần Lực, Wang, N.A.Q., Lincôpxki,… Ngoài tên gọi Hồ Chí Minh (dùng từ 1942), và tên Nguyễn Tất Thành do gia đình đặt, trong cuộc đời mình, Người còn có nhiều tên gọi và bí danh khác như Paul Tất Thành (1912); Nguyễn Ái Quốc (từ 1919); Văn Ba (khi làm phụ bếp trên tàu biển, 1911); Lý Thụy (khi ở Quảng Châu, 1924-), Hồ Quang (1938-40), Vương (Wang) (1925-27, 1940), Tống Văn Sơ (1931-33), Trần (1940) (khi ở Trung Quốc); Chín (khi ở Thái Lan, 1928-30) và được gọi là Thầu (ông cụ) Chín; Lin (khi ở Liên Xô, 1934-38); Chen Vang (trong giấy tờ đi đường từ Pháp sang Liên Xô năm 1923); ông cũng còn được gọi là Bác Hồ, Bok Hồ, Cụ Hồ. Khi ở Việt Bắc ông thường dùng bí danh Thu, Thu Sơn và được người dân địa phương gọi là Ông Ké, Già Thu,. Tổng thống Indonesia Sukarno gọi ông là “Bung Hồ” (Anh Cả Hồ). Bác Hồ còn dùng hơn 50 bút danh khi viết sách, báo: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng A.Q, Ng. Ái Quốc, N.A.Q, N., Wang, N.K., A.N; P.C. Lin, P.C. Line (1938, Trung Quốc), Line (1938, Trung Quốc), Q.T, Q.TH, Lê Quyết Thắng (1948-50), A.G, X.Y.Z (1947-50), G., Lê Nhân,..v.v. Và một số biệt danh mà không ai biết.

  • B. 153

  • C. 154

Bác Hồ nói được bao nhiêu ngôn ngữ

2. Bác Hồ nói được bao nhiêu ngôn ngữ

  • A. 28

  • B. 29

    Đáp án đúng là câu B: Giáo sư Hoàng Chí Bảo từng xác nhận rằng bác nói được 29 thứ tiếng, chưa kể tiếng đồng bào dân tộc nước Việt. Bác đã học bằng cách nào! Bác viết lên bàn tay, học dưới ánh trăng, dưới ánh đèn vàng vọt của con tàu, dành dụm từng ly café cho người thủy thủ Algeri để học tiếng Pháp... Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Bác Hồ được miêu tả: "Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha". Ngoài ra dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, Bác còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam…

  • C. 30

UNESCO công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hóa thế giới vào năm nào?

3. UNESCO công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hóa thế giới vào năm nào?

  • A. 1987

    Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, tại Thủ đô Paris tráng lệ của nước Cộng hòa Pháp đã diễn ra cuộc họp của Đại hội đồng UNESCO thế giới khóa 24, có gần 90 quốc gia thành viên Liên Chính phủ tham gia bàn nhiều nội dung về Văn hóa Hòa bình, về các môi trường đại dương, về Thập kỉ văn hóa giữa các nền văn minh, về khuyến cáo từ các di sản,.. Đại hội đồng nhất trí thông qua bản Nghị quyết Vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Anh hùng giải phóng dân tộc; Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Bác là người thứ 21 được vinh danh trên toàn cầu từ trước đến năm 1987.

  • B. 1988

  • C. 1989

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở lại thăm miền Nam mấy lần?

4. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở lại thăm miền Nam mấy lần?

  • A. Chưa lần nào

    Đáp án đúng là câu A: Bác nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị cho Bác vào thăm miền Nam ngày chưa giải phóng. Ngày 10/3/1968, đang chữa bệnh ở nước ngoài, Bác gửi thư cho Bí thư Thứ nhất T.Ư Đảng Lê Duẩn: “Nhớ lại hồi Noel năm ngoái, chú có khuyên Bác đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em. Có lẽ, chú và đồng chí khác e rằng sức khỏe của Bác không cho phép Bác đi xa. Nhưng, thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với nhân dân trong hoàn cảnh chiến đấu sẽ giúp sức khỏe Bác tiến bộ mau hơn”. Bác còn nêu thời gian chuẩn bị, cách đi và lịch trình chuyến thăm, trong đó không ngại đi bộ. Hàng ngày, những người gần Bác luôn thấy Bác cần mẫn, dẻo dai, bền bỉ, kiên nhẫn đeo ba lô nặng tập đi bộ, thậm chí leo núi để sẵn sàng cho chuyến đi vào Nam thăm đồng bào. Rất tiếc, sức khỏe của Bác giảm sút nhanh chóng. Những tháng cuối đời của Bác là quãng thời gian sốt ruột khi thấy ý định của mình có thể không thực hiện được. Trang Thư (Di chúc) vẫn đó, Bác đành phải hạ bút một câu: “Tôi có ý định đến ngày đó (ngày toàn thắng - MQT chú giải), tôi sẽ đi khắp hai miền Nam - Bắc để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; Thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

  • B. Một lần

  • C. Hai lần

Bác Hồ đến thăm Đền Hùng mấy lần và có câu nói nổi tiếng nào tại đây?

5. Bác Hồ đến thăm Đền Hùng mấy lần và có câu nói nổi tiếng nào tại đây?

  • A. Một lần

  • B. Hai lần

    Đáp án đúng là câu B: Bác Hồ đã từng đến thăm Đền Hùng 2 lần vào các năm 1954 và 1962. Trong buổi nói chuyện với chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong trên đường về tiếp quản Thủ đô tại Đền Hùng, Phú Thọ ngày 19/9/1954, Bác hồ đã nói câu nói: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…”?

  • C. Ba lần

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở lại thăm quê mấy lần?

6. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở lại thăm quê mấy lần?

  • A. Một lần

  • B. Hai lần

    Đáp án đúng là câu B: Hai lần. Lần thứ nhất là ngày 14/6/1957 và lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10/12/1961

  • C. Ba lần

Bác Hồ là người khởi xướng 2 tục lệ trong dịp Tết Nguyên Đán của người Việt. Đó là những tục lệ nào?

7. Bác Hồ là người khởi xướng 2 tục lệ trong dịp Tết Nguyên Đán của người Việt. Đó là những tục lệ nào?

  • A. Tục xông đất; Đọc thư chúc Tết

  • B. Hái lộc; Tết trồng cây

  • C. “Đọc thư chúc Tết” và tục “tết trồng cây”.

    Đáp án đúng là câu C: Đó là tục “Đọc thư chúc Tết” và tục “Tết trồng cây”. Năm nào Bác cũng có thư và thơ chúc Tết đồng bào. Bài thơ Chúc năm mới đầu tiên của Bác làm năm 1942, in trên báo Việt Nam Độc lập số 114. Nhưng lúc đó, bài thơ chưa được phổ biến rộng rãi, chưa mấy ai biết. Nói đến thư và thơ chúc Tết của Bác, thì phải nói bắt đầu từ Tết Bính Tuất, 1946, khi Bác đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xin trích bài Nghe thư chúc Tết đầu tiên của Bác Hồ của nhà viết kịch Học Phi kể lại, đêm giao thừa năm ấy, ở nhà Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, có mặt một số trí thức học ở Pháp về. “… Bỗng tiếng còi thành phố vang lên, rồi tiếng chuông trống đổ dồn, tiếng pháo nổ giòn giã khắp nơi. Bác sĩ Luyện vừa đứng dậy, vừa mở to radio vừa nói: “Hãy nghe Cụ Hồ Chí Minh chúc Tết đã”. Tin Hồ Chủ tịch đọc thư chúc Tết đã được thông báo trên đài, mọi người đã biết, nên cùng im lặng ngồi chờ… Từ trong máy thu thanh phát ra bài nhạc Quốc ca, rồi đến tiếng nói ấm áp của Bác Hồ. Bác chúc Tết đồng bào ở trong nước, và kiều bào ở nước ngoài, chúc các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên và nhi đồng, các chiến sĩ đang chiến đấu ở ngoài mặt trận. Bức thư kết thúc bằng bốn câu thơ lục bát: “Bao giờ kháng chiến thành công, Chúng ta cùng uống một chung rượu đào. Tết này ta tạm xa nhau, Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.” Bác Hồ rất thích trồng cây. Từ khi hoạt động ở Thái Lan cho đến khi về nước làm việc ở chiến khu Việt Bắc hay ở Thủ đô Hà Nội, Bác đều không quên “tăng gia sản xuất” và trồng cây. Bác tự mình làm trước và kêu gọi mọi người cùng làm. Ngày 28-1-1959, lấy bút danh Trần Lực, Bác viết bài Tết trồng cây đăng trên báo Nhân dân kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây, vào mùa Xuân (từ 6-1 đến 6-2-1960) nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng. Đợt trồng cây này gọi là “Tết trồng cây”, mở đầu cho việc trồng cây quanh năm. Đồng bào ta náo nức hưởng ứng lời kêu gọi của Bác. Những “Đồi cây Bác Hồ”, “Vườn cây Bác Hồ” phát triển khắp nơi.

Bức thư đầu tiên và cuối cùng Bác gửi cho ngành Giáo dục vào năm nào?

8. Bức thư đầu tiên và cuối cùng Bác gửi cho ngành Giáo dục vào năm nào?

  • A. 1945- 1967

  • B. 1945- 1968

    Đáp án đúng là câu B: Từ bức thư đầu tiên (9/1945) cho tới bức thư cuối cùng (10/1968), những lời của Bác đã trở thành di sản vô giá, là báu vật thiêng liêng của dân tộc ta, đất nước ta nói chung và của ngành Giáo dục nói riêng. Mỗi lời nói của Bác đều khơi dậy lòng yêu nghề, niềm tự hào đối với nghề, tinh thần trách nhiệm của các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên mà còn khơi dậy ý thức học tập của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay và mãi mãi về sau. Bức thư cuối cùng Bác gửi cho ngành Giáo dục vào ngày 15/10/1968 có đoạn viết: “Thứ nhất, thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tǎng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho, luôn luôn cố gắng cho xứng đáng với đồng bào miền Nam anh hùng”.

  • C. 1945-1969

"Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh" được Bác nói trong thời điểm nào?

9. "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh" được Bác nói trong thời điểm nào?

  • A. 20/11/1964

  • B. 21/10/1964

    Đáp án đúng là câu trả lời B: Đây là câu trong bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 21/10/1964. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội. Người cho rằng, đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng. Họ chính là những người đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục. “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”, câu nói đó của Người khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ.

  • C. 10/10/1964

Toàn văn di chúc của Bác được công bố năm nào?

10. Toàn văn di chúc của Bác được công bố năm nào?

  • A. 1988

  • B. 1989

    Đáp án trả lời đúng là câu B: “Di chúc là những lời dặn lại được Bác viết ra trong 5 năm (từ 1965 đến 1969). Ngoài phong bì đựng những lời dặn dò này, Bác ghi: “Tuyệt đối bí mật”. Mùa thu năm 1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị, quyết định công bố toàn văn di chúc và ra chỉ thị thực hiện di chúc này. Việc in toàn văn cuốn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao cho Nhà in Tiến Bộ. Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được in màu, giấy couché (công nghệ và chất liệu hiện đại nhất lúc bấy giờ), số lượng in 100.000 bản

  • C. 1990

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá