Chọi trâu Hải Lựu và những điều thú vị có thể bạn chưa biết

TPO - Diễn ra tại xã Hải Lựu huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc từ ngày 16 đến 17 tháng Giêng âm lịch, Hội chọi trâu Hải Lựu là lễ hội chọi trâu cổ xưa nhất Việt Nam.

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu
Lễ hội chọi trâu Hải Lựu
Lễ hội chọi trâu Hải Lựu được cho là do tướng nước Nam Việt nào khởi xưởng?

1. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu được cho là do tướng nước Nam Việt nào khởi xưởng?

  • A. Lữ Chân

  • B. Lữ Gia

    B là đáp án đúng. Tương truyền, lễ hội này có từ thế kỷ 2 trước Công nguyên. Khi nhà Hán xâm lược nước Nam Việt, nhà Triệu tan rã, thừa tướng nước Nam Việt là Lữ Gia lui quân về vùng núi Hải Lựu, Sông Lô, Vĩnh Phúc để tổ chức đánh giặc. Sau mỗi trận thắng, Lữ Gia lại cho tổ chức chọi trâu để truyền cho quân sĩ tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, quả cảm như các đấu sĩ trâu. Trâu sau khi chọi đều được giết để khao quân. Sau khi Lữ Gia mất, dân làng Hải Lựu thờ làm thành hoàng làng và lễ hội chọi trâu cũng bắt đầu có từ đó. Truyền rằng các quân được ăn thịt trâu chọi thân hình tráng kiệt sức khỏe hơn người chính vì thế mà người dân Hải Lựu luôn trụ vững trước quân xâm lược.

  • C. Lữ Nguyễn

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu chính thức được khôi phục vào năm nào?

2. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu chính thức được khôi phục vào năm nào?

  • A. 2000

  • B. 2002

    B là đáp án đúng. Lễ hội này được mở hàng năm vào ngày 16-17 tháng giêng và ước tính lượng du khách trong hai ngày lễ hội lên đến 7 vạn người. Từ năm 1947, do chiến tranh Đông Dương ác liệt và nhiều lý do khác, lễ hội chọi trâu này không được tổ chức, mãi tới năm 2002 mới được khôi phục trở lại. Có lẽ nét văn hoá độc đáo của chọi trâu Hải Lựu là khác với lễ hội chọi trâu ở nơi khác các trâu thường do các cá nhân hoặc các xã trong một huyện mua về chăm sóc nuôi dưỡng nhưng ở Hải Lựu các "đấu sĩ trâu" được các tập thể cùng tham gia nuôi dưỡng, huấn luyện (mỗi tập thể thường là các xóm, làng hoặc họ tộc...) đã gắn bó lâu đời với nhau.

  • C. 2004

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu 2019 có bao nhiêu cặp đấu?

3. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu 2019 có bao nhiêu cặp đấu?

  • A. 16

    A là đáp án đúng. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu 2019, có tổng số 32 trâu chọi (16 cặp đấu), trâu được giao cho mỗi thôn 1 con và một số dòng họ lớn trong xã. Nhưng từ năm 2020 trở đi sẽ giảm số lượng xuống còn 20 trâu chọi (10 cặp đấu). Theo Sở VHTT&DL Vĩnh Phúc, vài năm trước lễ hội chọi trâu Hải Lựu có việc bán vé cho du khách vào sới xem các trận đấu, nhưng từ năm 2018 việc bán vé đã dừng lại, để cho du khách vào tham quan tự do.

  • B. 18

  • C. 20

Từ huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc bạn có thể dễ dàng ghé thăm các điểm du lịch nào?

4. Từ huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc bạn có thể dễ dàng ghé thăm các điểm du lịch nào?

  • A. Đền bà chúa thượng ngàn

  • B. Chùa mía

  • C. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên

  • D. Tất cả các điểm trên

    D là đáp án đúng. Đền bà chúa thượng ngàn là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của du lịch Tam Đảo. Ngoài Đền Bà Chúa Thượng Ngàn nơi đây còn có đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, chùa Vàng tạo thành một cụm tâm linh Phật - Thánh đầy linh thiêng, quanh năm sương trắng. Đền Bà Chúa Thượng Ngàn Tam Đảo còn gọi là Đền Mẫu Thượng Tam Đảo. Chùa Mía là một ngôi chùa ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Đây là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam. Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên là một thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử nằm tại xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội khoảng 85 km về phía tây. Cùng với Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt và Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên là một trong 3 thiền viện lớn nhất của Việt Nam.Tương truyền khoảng thế kỷ thứ 3, có một vị hòa thượng tên là Khương Tăng Hội dừng chân ở đây, dựng chùa truyền giáo, vì thế nơi đây là cái nôi của Phật giáo Việt Nam. Thiền học Việt Nam được khởi đầu với hòa thượng Khương Tăng Hội, ông cũng đem Thiền học sang truyền bá ở Trung Quốc.

Ai được coi là kẻ chăn trâu kiệt xuất nhất triều Nguyễn

5. Ai được coi là kẻ chăn trâu kiệt xuất nhất triều Nguyễn

  • A. Đào Duy Từ

    A là đáp án đúng. Đào Duy Từ (1572-1634) quê ở xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Dù chỉ phục vụ chúa Nguyễn có 9 năm, với những đóng góp to lớn, về sau, Đào Duy Từ được vua Gia Long truy phong là bậc khai quốc công thần số 1 của họ Nguyễn. Theo sách Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn, dưới thời chúa Trịnh, ông thi hương đỗ Á nguyên khi mới chỉ 21 tuổi. Nhưng sau đó bị triều đình ra lệnh lột mũ, xóa tên bảng vàng vì tội “đổi họ đi thi”, buộc ông phải lặn lội vào Nam lập nghiệp. Ngày mới vào Nam, vì chưa có chỗ trú chân nên Đào Duy Từ phải vào tận Hoài Nhơn (Bình Định) làm nghề chăn trâu cho phú ông. Chính tại đây, trong một lần giao lưu, ông đã bộc lộ được trí tuệ uyên bác của mình, khiến nhiều học giả phải nể trọng, tạo tiền đề cho con đường tiến thân sau này.

  • B. Cao Bá Quát

  • C. Ngô Thì Nhậm

Đào Duy Từ đã đổi họ gì để đi thi?

6. Đào Duy Từ đã đổi họ gì để đi thi?

  • A. Họ Nguyễn

  • B. Họ Vũ

    B là đáp án đúng. Cha Đào Duy Tư là Đào Tá Hán - một xướng hát chuyên nghiệp mất năm ông lên 5 tuổi, được mẹ là bà Vũ Thị Kim Chi nuôi ăn học. Năm 14 tuổi, ông vào học trường của Hương cống nhưng không được thi Hương vì luật lệ bấy giờ cấm con nhà hát xướng đi thi. Do đó, mẹ ông phải nhờ viên xã trưởng khai đổi họ cho ông thành Vũ Duy Từ theo họ mẹ. Viên xã trưởng nhân thế ép mẹ ông phải lấy mình thì mới giúp, bà bèn lẩn đi bằng cách bảo khi nào Duy Từ thi đậu mới tiến hành cưới xin. Khoa thi Hương năm đó, Duy Từ thi đậu Á Nguyên; viên xã trưởng liền đòi cưới, nhưng mẹ ông viện lý do ông mới thi đậu mà mẹ đã tái giá thì xấu hổ mà từ chối, rồi bảo viên ấy rằng hãy cho con gái lớn về lấy Duy Từ thay thế. Giận dữ, viên xã trưởng nộp đơn kiện, làm lộ việc đổi họ của Duy Từ, viên quan huyện thụ đơn sau đi báo lại cho quan Hiến Sát. Bấy giờ, Duy Từ đang ở Hội văn trên Thăng Long dự thi, khi quan Thái phó đang phân vân chấm bài của Duy Từ, vì một số bài của ông bàn về cải cách chính trị hơi trái ý chúa Trịnh. Ngay lúc đó, bộ Lễ truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột Á Nguyên, lột mũ áo. Nghe tin này, bà Kim Chi đã tự vẫn.

Vì sao Đào Duy Từ quyết định không làm quan cho nhà Lê mà vào Đàng Trong với chúa Nguyễn?

7. Vì sao Đào Duy Từ quyết định không làm quan cho nhà Lê mà vào Đàng Trong với chúa Nguyễn?

  • A. Có tài nhưng không được họ Lê trọng dụng

  • B. Nghe tiếng chúa Nguyễn tài đức

  • C. Cả hai ý trên

    C là đáp án đúng. Đào Duy Từ thi đỗ á nguyên dưới thời vua Lê Thế Tông. Ông thi Hội, bài luận rất tốt, được quan chánh chủ khảo là Thái phó Nguyễn Hữu Liêu đánh giá cao. Tuy nhiên, Bộ Lễ đã đưa ra chứng cứ ông đổi họ, khai man lý lịch và truyền lệnh xóa tên ông khỏi vị trí á nguyên, lột mũ áo và tống giam. Nguyên nhân bố của Đào Duy Từ là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều, sau bị đuổi về quê làm nghề xướng ca rồi mất sớm. Lúc bấy giờ, ở Đàng Ngoài, xướng ca bị cho là "vô loài", con cái không được phép dự thi, không được làm quan. Đào Duy Từ đã đổi tên thành Vũ Duy Từ (theo họ mẹ) để đi thi. Sách Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 2) chép rằng năm 1593, "Thanh Hoa có kỳ thi Hương, quan Hiến ti cho Duy Từ là con phường chèo nên tước bỏ tên, không cho vào thi. Duy Từ bực tức trở về, nhân nghe tiếng chúa (Nguyễn) yêu dân và quý học trò, các bậc hào kiệt đều quy phục, nên quyết chí vào Nam một mình để theo". Mùa đông năm 1627, Đào Duy Từ trốn được vào xứ Đàng Trong. Đầu tiên, ông ở huyện Vũ Xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình. Sau khi biết Khám lý huyện Hoài Nhân là Trần Đức Hòa, người có mưu trí được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng, ông vào Hoài Nhân, đi ở chăn trâu cho một phú ông ở xã Tùng Châu.Phú ông thấy Đào Duy Từ học rộng tài cao, biết không phải người thường, liền đem nói với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi, thấy mọi chuyện ông đều thông hiểu, liền giữ ông lại và gả con gái cho. Khi Trần Đức Hòa xem bài Ngọa Long cương của Đào Duy Từ liền nói rằng "Đào Duy Từ là Ngọa Long đời này chăng"? Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long cương cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên xem. Đọc xong, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi tới. Mấy hôm sau, Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. Đào Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó họp bàn đình thần phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ.

Sau cuộc chiến thứ nhất với họ Trịnh, năm 1630, Đào Duy Từ đã hiến kế cho chúa Sãi đắp lũy đầu tiên để phòng thủ. Đó là lũy nào?

8. Sau cuộc chiến thứ nhất với họ Trịnh, năm 1630, Đào Duy Từ đã hiến kế cho chúa Sãi đắp lũy đầu tiên để phòng thủ. Đó là lũy nào?

  • A. Lũy Trường Dục

    A là đáp án đúng. Sau thất bại ở cuộc chiến thứ nhất (năm 1627) với họ Nguyễn, họ Trịnh luôn nghĩ cách, tìm cớ đem quân vào đánh. Ngược lại, chúa Nguyễn, theo kế sách của Đào Duy Từ, cho lính sở tại đắp lũy Trường Dục để phòng thủ. Theo sách Đại Nam thực lục (Tiền biên, quyển 2), năm 1630 Đào Duy Từ đã nói với chúa Nguyễn Phúc Nguyên: "Muốn mưu đồ bá vương, phải có kế vẹn toàn. Người xưa nói rằng, nếu không có một lần khó nhọc thì không thể ngơi nghỉ lâu dài, nếu không chịu phí tổn nhất thời thì không thể có yên ổn mãi. Thần xin được hiến bản vẽ, đem quân dân hai trấn đến đắp một cái lũy dài, trên nối với núi Trường Dục, dưới kéo đến bãi cát Hạc Hải, nhân theo thế đất mà đặt chỗ hiểm để giữ vững biên cảnh, quân địch dẫu có đến cũng không làm gì được". Chúa Nguyễn Phúc Nguyên theo kế ấy, huy động quân dân đắp lũy Trường Dục, hơn một tháng thì xong. Đến năm 1631, trước quyết tâm gây chiến khó bề lay chuyển của họ Trịnh, Đào Duy Từ tiếp tục xin chúa đắp thêm lũy Nhật Lệ. Ông cùng Nguyễn Hữu Dật trông coi việc đắp lũy. Năm sau nữa, lũy khác được dựng lên là Trường Sa. Hệ thống ba lũy này được đắp bằng đất, tùy vị trí cao 4-6 m, tổng đoạn lũy dài 34 km xen kẽ nhiều ụ súng, vọng gác. Lũy sau này được người dân gọi là lũy Đào Duy Từ, dân gian gọi là lũy Thầy với hàm ý kính trọng, tôn vinh Đào Duy Từ, người có công tạo ra hệ thống lũy, giữ yên bờ cõi Đàng Trong.

  • B. Lũy Nhật Lệ

  • C. Lũy Trường Sa

Vật dụng nào dưới đây được Đào Duy Từ sử dụng trong kế sách giúp Nguyễn Phúc Nguyên khéo léo trả lại sắc phong cho họ Trịnh?

9. Vật dụng nào dưới đây được Đào Duy Từ sử dụng trong kế sách giúp Nguyễn Phúc Nguyên khéo léo trả lại sắc phong cho họ Trịnh?

  • A. Thau

  • B. Mâm

    B là đáp án đúng. Theo Việt sử giai thoại, năm 1630, chúa Nguyễn Phúc Nguyên hỏi Đào Duy Từ về cách trả lại tờ sắc phong cho họ Trịnh. Duy Từ thưa: "Nên đúc một cái mâm đồng hai đáy, giấu sắc phong ở giữa. Xong, sắm đầy đủ lễ vật, lấy tướng Thần Lại là Văn Khuông làm sứ giả đi tạ ơn. Thần xin nghĩ sẵn hơn mười câu hỏi và trả lời để trao cho sứ giả mang đi, đến nơi tùy cơ ứng biến. Hễ đem xong mâm đồng cho họ Trịnh thì mau tìm cách về. Làm như thế, họ Trịnh sẽ mắc mưu ta". Chúa theo lời, sai Văn Khuông đi Đông Đô. Văn Khuông bưng mâm đồng chứa đầy vàng bạc dâng lên. Trịnh Tráng nhận lấy. Ngay hôm đó, Văn Khuông lẻn ra khỏi cửa đô thành, theo đường biển mà trở về. Chúa Trịnh Tráng thấy cái mâm đồng hai đáy thì lấy làm lạ, bèn tách ra xem thì thấy ở trong có tờ sắc phong và một tấm thiếp viết: "Mâu nhi vô dịch/ Mịch phi kiến tích/ Ái lạc tâm trường/ Lực lai tương địch". Bầy tôi dâng lên, Trịnh Tráng hỏi nhưng không ai hiểu được. Riêng có Phùng Khắc Khoan nói rằng đó chẳng qua là ẩn ngữ của mấy chữ "Dư bất thụ sắc" (tức là Ta không nhận sắc). Trịnh Tráng giận lắm, sai người bắt Văn Khuông nhưng không kịp. Ông muốn lập tức đem quân vào đánh phương Nam, nhưng lúc bấy giờ ở Cao Bằng và Hải Dương đều có tin cáo cấp nên thôi. Khi Văn Khuông về, chúa Nguyễn cả mừng nói: "Đào Duy Từ như Tử Phòng, Khổng Minh ngày nay vậy", nói rồi trọng thưởng cho Đào Duy Từ và thăng chức cho Văn Khuông.

  • C. Bát

Đào Duy Từ được một số nơi thờ vì được cho là ông tổ của loại hình nghệ thuật sân khấu nào?

10. Đào Duy Từ được một số nơi thờ vì được cho là ông tổ của loại hình nghệ thuật sân khấu nào?

  • A. Tuồng

    A là đáp án đúng. Cuốn Văn hóa Việt Nam tổng hợp do Ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương xuất bản năm 1989 có đoạn viết: "Đào Duy Từ xứng đáng là một nhà văn hóa toàn diện ở Việt Nam đầu thế kỷ 17". Ngoài những kế sách giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên xây dựng cơ đồ, Đào Duy Từ còn là nhà quân sự, nhà thơ lớn. Theo cuốn Đào Duy Từ - Con người và tác phẩm, ông là soạn giả cuốn Hổ Trướng khu cơ, tài liệu dùng cho các vị chỉ huy quân sự, các vị chủ soái, gồm những chỉ dẫn về binh pháp, trận đồ, cách điều hành, tổ chức quân đội, khí giới. Ở lĩnh vực thơ ca, ông là tác giả của nhiều bài thơ như Ngọa Long cương, Tư Dung văn. Đặc biệt, Đào Duy Từ còn được một số nơi tôn thờ là ông tổ nghệ thuật sân khấu tuồng. Có ý kiến cho rằng ông là người đầu tiên lập ra các đội múa hát, huấn luyện chuyên môn cho các nghệ nhân. Cơ quan phụ trách hát múa chính thức của Đàng Trong đã ra đời dưới thời chúa Sãi do ông sáng lập và phụ trách. Đào Duy Từ cũng là tác giả của nhiều điệu ca, vũ khúc.

  • B. Chèo

  • C. Cải Lương

Đào Duy Từ qua đời năm 1634, khi mới phụ chính cho chúa Nguyễn được tám năm. Ông được chúa Nguyễn cho đưa về an táng và lập đền thơ ở đâu?

11. Đào Duy Từ qua đời năm 1634, khi mới phụ chính cho chúa Nguyễn được tám năm. Ông được chúa Nguyễn cho đưa về an táng và lập đền thơ ở đâu?

  • A. Thanh Hóa

  • B. Thừa Thiên Huế

  • C. Bình Định

    C là đáp án đúng. Sinh ra và lớn lên ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa, nhưng làng Tùng Châu (nay thuộc xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn, Bình Định) mới là nơi hun đúc thêm tài năng và ý chí của Đào Duy Từ, giúp ông bắt đầu sự nghiệp lớn. Vì vậy, năm 1634, khi ông qua đời do bệnh nặng, chúa Nguyễn đã cho đưa thi hài về mai táng và lập đền thờ tại đây. Năm 1805, dưới thời vua Gia Long, nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và sáu người trông coi phần mộ. Đến năm 1836, dưới thời vua Minh Mạng, triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ Đào Duy Từ đã bị hư hại nhiều. Ngày nay, tên của Đào Duy Từ được đặt cho nhiều đường phố, trường học khắp cả nước như một cách để tưởng nhớ công lao của ông.

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá