Vị vua nào có hiếu nhất, mỗi tháng dành 15 ngày vấn an mẹ?

TPO - Ông là vị vua nổi tiếng hiếu thảo trong lịch sử. Theo sách "Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn", suốt 36 năm làm vua, cứ một ngày thượng triều, một ngày ông lại đến cung Diên Thọ vấn an sức khỏe mẹ.

Ông vua nước Việt nào mỗi tháng dành 15 ngày vấn an mẹ?

1. Ông vua nước Việt nào mỗi tháng dành 15 ngày vấn an mẹ?

  • A. Minh Mạng

  • B. Tự Đức

    Đáp án đúng là câu B: Tự Đức (1829-1883) là vị vua nổi tiếng hiếu thảo trong lịch sử. Theo sách "Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn", suốt 36 năm làm vua, cứ một ngày thượng triều, một ngày ông lại đến cung Diên Thọ vấn an sức khỏe mẹ. Lên ngôi khi 18 tuổi, suốt gần 36 năm trị vì đất nước, vua Tự Đức rất coi trọng bổn phận làm con với mẹ là Hoàng Thái hậu Từ Dụ. Nhà vua đặt cho mình lịch làm việc cố định: Vào các ngày chẵn trong tháng, vua cùng đoàn tùy tùng vào cung Diên Thọ vấn an sức khỏe mẫu hậu, còn các ngày lẻ thì thiết triều hoặc lo công việc triều đình. Như vậy, mỗi tháng, nhà vua chầu cung 15 lần, ngự triều 15 lần, chỉ trừ khi vua đi công cán ở ngoài kinh thành hoặc yếu mệt thì mới không thực hiện bổn phận này.

  • C. Gia Long

Tiến sĩ nước Việt nào từng xin đi tù thay cha?

2. Tiến sĩ nước Việt nào từng xin đi tù thay cha?

  • A. Trương Hanh

  • B. Hoàng Sầm

  • C. Phan Thanh Giản

    Đáp án đúng là câu C: Phan Thanh Giản (1796–1867 ) là vị tiến sĩ đầu tiên của vùng đất Nam Bộ. Ông sinh tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cha bị bắt oan, Phan Thanh Giản viết thư cho quan địa phương xin được đi tù thay. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan này cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau dồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày. Hành động hiếu thảo của ông được hậu thế ca ngợi.

Vị tướng nào trong lịch sử được mang danh thiên tử nghĩa đệ (em vua)?

3. Vị tướng nào trong lịch sử được mang danh thiên tử nghĩa đệ (em vua)?

  • A. Lý Thường Kiệt

    Đáp án đúng là câu A: Lý Thường Kiệt (1019-1105) từng được mang danh thiên tử nghĩa đệ (em vua). Đúng như Phan Huy Chú nói, Lý Thường Kiệt là “người đứng đầu các bậc công hầu” của triều Lý. Nhưng, ông lại không phải là người họ Lý chính tông. Hầu hết các tài liệu cổ đều nói rằng, Lý Thường Kiệt vốn người họ Ngô, tên húy là Tuấn. Ngô Tuấn người làng An Xá, huyện Quảng Đức (Đất huyện Quảng Đức nay thuộc Hà Nội, làng An Xá nằm ở phía Nam của Hồ Tây). Ngô Tuấn tự là Thường Kiệt, sau vì có công, được vua sủng ái nên được ban quốc tính (tức được lấy theo họ của nhà vua), do đó, người đời vẫn quen gọi Ngô Tuấn theo cách ghép giữa quốc tính với tên tự là Lý Thường Kiệt. Sử cũ cũng chép theo cách này, vì vậy, hậu thế phần lớn chỉ biết đến tên gọi phổ biến là Lý Thường Kiệt, ít ai biết đến họ và tên thật của ông là Ngô Tuấn. Suốt 19 năm làm Tổng trấn Thanh Hóa (1082-1101) ngài đã có nhiều phương cách thông minh sáng suốt khuyến khích huy động nội lực của xứ Thanh Hóa rất phát triển về kinh tế văn hóa. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước cái thuật yên dân. Sự tốt đẹp đều ở đấy cả. Ông là một nhà quân sự, nhà chính trị cũng như hoạn quan rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành một trong hai danh tướng vĩ đại nhất nhà Lý, bên cạnh Lê Phụng Hiểu. Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.

  • B. Ngô Quyền

  • C. Mai Thúc Loan

Ai trong lịch sử được biết đến với câu chuyện nhường khố cho cha?

4. Ai trong lịch sử được biết đến với câu chuyện nhường khố cho cha?

  • A. Lạc Long Quân

  • B. Chử Đồng Tử

    Đáp án đúng là câu B: Theo sách “Lĩnh Nam Chích Quái”, Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Vi Vân. Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại chiếc khố che thân, thay nhau mặc. Lúc già ốm, người cha gọi con lại bảo hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình chịu cảnh trần truồng. Chàng kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.

  • C. Phù Đổng Thiên Vương

Vị vua nào từng giết hổ báo thù cho mẹ?

5. Vị vua nào từng giết hổ báo thù cho mẹ?

  • A. Phùng Hưng

  • B. Ngô Quyền

  • C. Mai Hắc Đế

    Đáp án đúng là câu C: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan) nổi tiếng về lòng hiếu thảo. Mai Thúc Loan sinh vào khoảng cuối thế kỷ thứ 7, tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An. Theo Việt điện u linh, cha của Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Thạch Hà, Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn, Nghệ An. Theo sách Việt sử tiêu án, Mai Thúc Loan là người làng Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay là thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, dân lập đền thờ ông ở thôn chợ Sa Nam. Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi lấy củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi đô vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông. Mai Thúc Loan cùng dân làng vào rừng giết hổ báo thù cho mẹ.

Cha bị bắt sang phương Bắc, danh nhân nào đã theo hầu tới ải Nam Quan?

6. Cha bị bắt sang phương Bắc, danh nhân nào đã theo hầu tới ải Nam Quan?

  • A. Nguyễn Phi Khanh

  • B. Nguyễn Trãi

    Đáp án đúng là câu B: Nguyễn Trãi (1380-1442) là danh nhân nổi tiếng về lòng hiếu thảo. hiệu là Ức Trai, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) với Đại Việt. Khi cuộc khởi nghĩa thành công vào năm 1428, Nguyễn Trãi trở thành khai quốc công thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sử Việt Nam. Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh, con rể của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, nhà Trần. Khi nhà Trần bị Hồ Quý Ly lật đổ lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi tham gia dự thi, thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi làm quan dưới triều Hồ với chức Ngự sử đài chính chưởng. Khi nhà Minh xâm lược, cha ông là Nguyễn Phi Khanh và ông đầu hàng rồi bị bắt giải về Trung Quốc., Nguyễn Trãi tính đi theo để chăm sóc, phụng dưỡng cha già. Khi đến ải Nam Quan, Nguyễn Phi Khanh khuyên ông nếu thương cha hãy quay về tìm cách cứu nước, báo thù cho cha. Nguyễn Trãi nghe theo, quay về tìm theo Lê Lợi, đánh đuổi quân Minh. Sau này, Nguyễn Phi Khanh mất ở đất khách, Nguyễn Trãi nhờ người tìm ra được mộ phần.

  • C. Lê Quý Đôn

Vị vua nào sau đây dâng roi mây lên mẹ xin chịu đòn?

7. Vị vua nào sau đây dâng roi mây lên mẹ xin chịu đòn?

  • A. Tự Đức

    Đáp án đúng là câu A: Vua Tự Đức triều Nguyễn là người con hết sức có hiếu với mẹ, sẵn sàng để mẹ phạt roi khi mắc lỗi. Lên ngôi khi 18 tuổi, suốt gần 36 năm trị vì đất nước, vua Tự Đức rất coi trọng bổn phận làm con với mẹ là Hoàng Thái hậu Từ Dụ. Từ Dụ Hoàng thái hậu truyện trong bộ Đại Nam liệt truyện viết: “Đức vua phụng sự mẹ chí hiếu lắm. Bà thường muốn nghe đọc sách sử, vua thuận theo ý bà. Chẳng có khi nào dám trái ngược, chừng nào mẹ hết muốn nghe, bảo thôi đọc thì vua mới thôi. Chẳng những việc đọc sách sử mà bất cứ chuyện gì, vua cũng nhất nhất thừa theo ý mẹ”. Một câu chuyện được sách sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện ghi lại, cho thấy vua Tự Đức “răm rắp” nghe lời mẹ. Đó là một ngày rảnh việc nước, vua đi ngự săn bắn tại rừng Thuận Trực. Gặp phải nước lụt, trong khi đó còn hai ngày nữa thì đến ngày giỗ vua cha Thiệu Trị mà vua vẫn chưa trở về. Đức Từ Dụ nóng ruột sai quan đại thần Nguyễn Tri Phương đi tìm và rước nhà vua về. Nguyễn Tri Phương phụng lệnh lên đường, đi được nửa đường thì gặp thuyền ngự đang chèo lên, do dòng nước chảy mạnh không chèo nhanh được nên gần tối thuyền ngự mới tới bến. Vừa tới hoàng cung, vua liền lên kiệu đi thẳng sang cung Diên Thọ để lạy xin chịu tội dù khi đó trời vẫn đang đổ mưa. Nhà vua dâng lên một chiếc roi mây đặt trong mâm son, để trên ghế rồi nằm phục xuống sàn xin chịu đòn. Đức Từ Dũ ngồi xoay mặt vào màn không nói lời nào, một hồi lâu, bà mới xoay mặt ra lấy tay hất cái roi đi.

  • B. Thiệu Trị

  • C. Minh Mạng

Vị vua nào là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn và ra lệnh tử hình cả bố vợ?

8. Vị vua nào là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn và ra lệnh tử hình cả bố vợ?

  • A. Minh Mạng

    Đáp án đúng là câu A: Là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn, Minh Mạng thường trị tội rất nặng những kẻ tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích. Vua Minh Mạng (1791-1841, tên húy Nguyễn Phúc Đảm) có công xây dựng Đại Nam trở thành quốc gia rộng lớn, hùng mạnh bậc nhất trong khu vực. Các nước lân bang đều phải kính nể. Để trị tội tham quan, vua từng xử tử, chặt ngón tay của những kẻ có hành vi tham nhũng. Trong số các vụ án trị quan tham của Minh Mạng, nổi tiếng nhất là vụ tử hình bố vợ nhà vua là Huỳnh Công Lý, khi ông này tham nhũng 30.000 quan tiền. Huỳnh Công Lý là một trong những võ tướng nổi tiếng thời Gia Long, có công giúp Nguyễn Ánh dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, sau được phong làm Lý Chính Hầu. Khi con gái được vua Minh Mạng phong làm Huệ phi, Huỳnh Công Lý càng được tin dùng. Ông được phong làm Phó tổng trấn Gia Định, quyền hành chỉ sau mỗi Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Quyền lực là thế, lại mang danh bố vợ nhà vua, nhưng cuối cùng, người này không thoát án tử vì tội tham nhũng. Theo Đại Nam thực lục, trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế (1816-1820), Huỳnh Công Lý được giao giữ chức Phó tổng trấn. Lợi dụng chức vụ và bề trên đi vắng, Huỳnh Công Lý thừa cơ vơ vét của cải từ nhân dân và binh lính. Sau khi Lê Văn Duyệt quay về Gia Định, nhận được tin tố cáo Huỳnh Công Lý tham ô, ông báo về triều đình. Vua Minh Mạng ra lệnh tống giam bố vợ và cử quan Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra. Theo hồ sơ đã được trình lên vua, số tiền tham nhũng lên đến hơn 30.000 quan tiền. Biết chuyện này, vua Minh Mạng buồn rầu mà nói rằng: "Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực.

  • B. Tự Đức

  • C. Gia Long

Cùng chuyên mục

Xem thêm Giáo dục

Cùng chủ đề

Mới - Nóng

Khám phá